Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 2 tháng 10 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Thực trạng phát triển kinh tế biển Việt Nam
15:37 | 22/10/2009

 

 Cần phát triển kinh tế biển Việt Nam tương xứng
với tiềm năng (ảnh trên internet)

(ĐCSVN) – Kinh tế biển (theo nghĩa hẹp, bao gồm đánh bắt thuỷ hải sản, dầu khí và vận tải; theo nghĩa rộng, bao gồm khoáng sản biển, vận tải biển, quốc phòng, du lịch và giải trí biển, các dịch vụ biển…) mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam nhưng do nhiều nguyên nhân vẫn chưa phát triển xứng với tiềm năng.

Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thuỷ, hải sản, thông tin liên lạc, v.v... bước đầu phát triển, nhưng quy mô còn nhỏ bé (chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước).

Quy mô kinh tế biển Việt Nam năm 2005 đạt khoảng hơn 184 nghìn tỷ đồng (tương đương với khoảng 12 tỷ USD); trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới năm 2001 ước 1.300 tỷ USD, Nhật Bản năm 2003 là 468,5 tỷ USD, Hàn Quốc là 33,4 tỷ USD. Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu.

Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún. Năm 2005, trong tổng số 126 cảng biển ở các vùng, miền thì chỉ có 4 cảng có công suất trên 10 triệu tấn/năm và 14 cảng có công suất trên 1 triệu tấn/năm, còn lại đều là cảng quy mô nhỏ, khả năng neo đậu được tàu với trọng tải 3.000 tấn. Thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp. Các chỉ tiêu hàng hóa thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực (chỉ bằng 1/140 của Singapore, 1/7 của Malaysia và 1/5 của Thái Lan). Năng suất xếp dỡ bình quân chỉ đạt mức trung bình thấp so với các nước trong khu vực (khoảng 2.500-3.000tấn/mét/năm).

Việt Nam là quốc gia có nhiều lợi thế về tài nguyên biển với bờ biển dài 3.260 km trải dọc chiều dài đất nước. Trung bình 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển (cao gấp 6 lần tỷ lệ trung bình của thế giới). Biển Việt Nam chứa nguồn tài nguyên, thiên nhiên phong phú, đa dạng với trữ lượng, quy mô lớn, cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng.  

Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển, nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn. Các sân bay ven biển và trên một số đảo còn nhỏ. Các thành phố, thị trấn, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển đang trong thời kỳ bắt đầu xây dựng. Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển, các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo thời tiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn... trang bị thô sơ.

Khai thác hải sản là lĩnh vực kinh tế đặc trưng của biển và tạo việc làm cho hơn 5 vạn lao động đánh cá trực tiếp và 10 vạn lao động dịch vụ nghề cá. Khai thác hải sản bao gồm (đánh bắt, nuôi trồng và chế biến) đã trở thành một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao. Riêng lĩnh vực đánh bắt khơi xa, Nhà nước đã đầu tư hơn 1.300 tỷ đồng trong giai đoạn (1997 – 2007) để đóng 1.292 chiếc tàu đánh bắt xa bờ trong Chương trình đánh bắt cá xa bờ, tuy nhiên chưa đem lại kết quả như mong đợi.

Các ngành kinh tế liên quan trực tiếp đến biển như chế biến sản phẩm dầu, khí; chế biến thuỷ hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất muối biển công nghiệp, các dịch vụ kinh tế biển và ven biển (như thông tin, tìm kiếm cứu nạn hàng hải, dịch vụ viễn thông công cộng biển trong nước và quốc tế, nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, xuất khẩu thuyền viên, v.v...), chủ yếu mới ở mức đang bắt đầu xây dựng, hình thành và quy mô còn nhỏ.

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư kinh tế biển đóng góp khoảng 47% - 48% GDP giai đoạn 2000 – 2008, trong đó GDP của riêng kinh tế biển chiếm khoảng 22% tổng GDP cả nước. Các ngành kinh tế biển đóng góp lớn như: dầu khí 64%; hải sản 14%; vận tải biển và dịch vụ cảng biển 11%; du lịch biển khoảng 9%. Các ngành kinh tế liên quan trực tiếp đến khai thác biển như đóng tàu, sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thuỷ sản, thông tin liên lạc… bước đầu phát triển mạnh. Tuy nhiên, so với thế giới, khai thác lợi thế từ biển của nước ta còn nhiều hạn chế, khó khăn và yếu kém. Quy mô kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị tổng sản phẩm hàng năm còn nhỏ bé, chỉ bằng 1/20 của Trung Quốc; 1/94 của Nhật Bản; 1/7 của Hàn Quốc và 1/20 kinh tế biển của thế giới.

Du lịch biển là một tiềm năng kinh doanh lớn ở nước ta nhưng ngành du lịch biển vẫn chưa có những sản phẩm dịch vụ đặc sắc, có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế. Việt Nam cũng chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt quy mô và trình độ quốc tế.

Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập nghĩa là phải cạnh tranh quốc tế để tồn tại và phát triển. So với sự phát triển kinh tế biển của thế giới thì thấy rõ ràng rằng với lợi thế nằm trên bờ tây của biển Đông - một biển lớn, thuộc loại quan trọng nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và thế giới - nhưng Việt Nam chưa khai thác được hết thế mạnh của kinh tế biển, là do:

Thứ nhất, chưa nhận thức rõ về vị trí, vai trò của biển đối với cuộc sống và sự phát triển. Tuy là quốc gia biển, nhưng người Việt Nam lại chưa nhận thức được truyền thống kinh tế và văn hoá biển đặc sắc. có đóng góp cho thế giới. Vì vậy, cần phải thay đổi cách tư duy về quản lý và khai thác tài nguyên biển. Tư duy mới là phải đối mặt với biển, phải có bản năng chinh phục biển và chế ngự biển khơi.

Thứ hai, chưa có sự quan tâm đầy đủ, đứng mức tới sự phát triển kinh tế biển. Việt Nam chưa có một cơ quan Nhà nước để quản lý tổng hợp, thống nhất về biển. ở cấp Trung ương tuy đã có Ban chỉ đạo Biển Đông - Hải đảo (thành lập năm 1993), nhưng rất hạn chế về công tác quản lý Nhà nước. Nhiều Bộ, Ngành cùng tham gia quản lý biển nên có tình trạng chồng chéo, trong khi nhiều khâu lại bị bỏ trống. ở các địa phương chưa có bộ máy tổ chức quản lý biển thống nhất nên rất lúng túng và có tình trạng buông lỏng hoặc rất yếu trong lĩnh vực quản lý biển.

Thứ ba, thiếu vốn để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Cũng như các nước đang phát triển khác, nền kinh tế Việt Nam còn nghèo, thu nhập bình quân đầu người không cao, chưa đủ vốn đầu tư để phát triển kinh tế biển, trước hết là đầu tư cho cơ sở hạ tầng.

Thứ tư, do sự tranh chấp khu vực biển Đông. Khu vực Biển Đông hiện đang còn có sự tranh chấp, nên việc hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế ở khu vực này còn gặp một số khó khăn. Tuy nhiên, những năm gần đây, kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển nhờ chính sách di dân và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên các đảo (hệ thống giao thông, mạng lưới điện, cung cấp nước ngọt, trường học, bệnh xá...).

Các từ khóa theo tin:

TS. Phạm Thị Thanh Bình (Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới)

In trang | Gửi góp ý


Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Tổng Bí thư và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường thăm Đại Hàn Dân Quốc
· Làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc
· Sẽ trình Quốc hội 2 phương án về mô hình tổ chức chính quyền địa phương
· Người phát ngôn của Chính phủ: Mục tiêu tăng trưởng GDP 5,8% là hoàn toàn khả thi
UBND tỉnh Bắc Ninh đã báo cáo vụ án Minh “sâm” với Chính phủ
· Bế mạc Hội nghị lần thứ 19 Ban Chấp hành Đảng bộ TP.Hồ Chí Minh
· Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp đoàn đại biểu Hội hữu nghị Hàn - Việt
Gặp mặt thân mật đại diện hai dòng họ Lý (Việt Nam) tại Hàn Quốc
· Tái cơ cấu nền kinh tế: Phải chỉ rõ trách nhiệm từng cấp
· Nhân ngày Quốc tế người cao tuổi 1/10: Gương mẫu, tích cực xây dựng nông thôn mới
· Thủ tướng Chính phủ chỉ thị tăng cường chống buôn lậu thuốc lá
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet