Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 28 tháng 8 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  bandoc.dcsvn@gmail.com
thuky.dcsvn@gmail.com
Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS)
12:31 | 30/03/2009
Untitled 4

Công ước Liên hợp quốc về Luật biển,còn gọi là Công ước Luật biển hay Hiệp ước Luật biển, là mộthiệp ước quốc tế được hình thành trongHội nghị về luật biển của Liên hợp quốc lần thứ 3 diễn ra từ năm 1973, sau nhiều chỉnh sửa cho đến 1982 đã được thực hiện trong Hiệp ước Thi hành năm 1994. Công ước Luật biển là một bộ các quy định về sử dụng biển vàđại dươngtrên thế giới (chiếm 70% diện tích bề mặtTrái Đất). Công ước đã được ký kết năm 1982 để thay thế cho 4 hiệp ước năm 1958 đã hết hạn. UNCLOS có hiệu lực năm 1994, và đến nay, 154 quốc gia và Cộng đồng châu Âu đã tham gia Công ước này. Hoa Kỳ không tham gia vì nước này cho rằng Công ướcnày không có lợi cho kinh tế và an ninh của họ. Công ước quy định quyền và trách nhiệm của các quốc gia trong việc sử dụng biển, đại dương; các hướng dẫn rõ ràng cho các hoạt động kinh doanh, bảo vệ môi trường và quản lý khai thác các tài nguyên trên đó.

Trong quan hệ quốc tế cần thiết phải có những quy định thống nhất giữa các quốc gia xác lập các quyền đối với vùng biển xung quanh lãnh thổ của mình.Do tính pháp lý yếu củakhái niệmquyền tự do về biển, có từ thế kỷ 17: quyền của các quốc gia  bị giới hạn trong một vành đailãnh hải mở rộng ra từ bờ biển của quốc gia đó, thường là 3 hải lý, còn tất cả các lãnh hải nằm ngoài biên giới quốc gia được xem nhưlãnh hải quốc tế - tự do cho tất cả các quốc gia, không thuộc quốc gia nào.

Đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia muốn mở rộng chủ quyền nhằmkiểm soát các nguồn tài nguyên khoáng sản, bảo vệ nguồn cá và kiểm soát ô nhiễm.Hội quốc liên đã tổ chức một hội nghị vào năm 1930 tại Hague để bàn về điều này, nhưng không đạt được thỏa thuận nào.

Năm 1945, Tổng thống MỹHarry S. Truman đã tuyên bố mở rộng quyền kiểm soát quốc gia đối với tài nguyên thiên nhiên ở trongthềm lục địa của mình. Các quốc gia khác cũng nhanh chóng đua theo Mỹ. Giữa năm 1946 và 1950, Argentina, Chile, Peru và Ecuador đều mở rộng chủ quyền của mình ra khoảng cách rộng 200 hải lý nhằm bao quát cả ngư trường tronghải lưu Humboldt của họ. Các quốc gia khác đã nới rộng vùng lãnh hải đến 12 hải lý.

Đến năm 1967, chỉ có 25 quốc gia vẫn sử dụng giới hạn 3 hải lý, 66 quốc gia đã quy định giới hạn lãnh hải 12 hải lý và 8 quốc gia đưa ra giới hạn 200 hải lý. Đến tháng 7 năm 2007, chỉ có vài nước sử dụng giới hạn 3 hải lý là (Jordan, Palau và Singapore). Giới hạn 3 hải lý này cũng được sử dụng ở một số đảo của Úc, một khu vực của Belize, một vài eo biển của Nhật Bản, một vài khu vực của Papua New Guinea, và một vài lãnh thổ thuộc Anh.

Năm 1956, Liên hợp quốc tổ chức Hội nghị về Luật biển đầu tiên (UNCLOS I) ở Geneva, Thụy Sĩ. Hội nghị này đạt được bốn hiệp định ký kết vào năm 1958: Công ước về lãnh hải và vùng tiếpgiáp, có hiệu lực vào ngày 10/9/1964;Công ước về thềm lục địa, có hiệu lực vào ngày 10/6/1964;Công ước về hải phậnquốc tế, có hiệu lực vào ngày 30/9/1962;Công ước về nghề cá và bảo tồntài nguyênsống ở hảiphận quốctế, có hiệu lực vào ngày 20/3/1966. Mặc dầu Hội nghị lần này được cho là thành công, nhưng nó vẫn chưa giải quyết được vấn đề quan trọng là bề rộng của vùng lãnh hải.

Các vùng biển theo luật biển quốc tế

Năm 1960, Liên hợp quốc tổ chức Hội nghị về Luật biển lần hai (UNCLOS II); tuy nhiên, Hội nghị sáu tuần ở Geneva đã không đạt được tiến bộ nào mới. Nhìn chung, các nước đang phát triển chỉ tham dự như khách mời mà không nói lên được tiếng nói của mình.

Năm 1967, vấn đề về các tuyên bố khác nhau về lãnh hải đã được nêu ra tại Liên hợp quốc. Năm 1973, Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 3 về Luật biển (Third United Nations Conference on the Law of the Sea) được tổ chức tại New York. Để cố gắng giảm khả năng các nhóm quốc gia thống trị đàm phán, Hội nghị dùng một quy trình đồng thuận thay cho bỏ phiếu lấy đa số. Với hơn 160 nước tham gia, Hội nghị kéo dài đến năm 1982 mới hoàn chỉnh dự thảo công ước, các nước bắt đầu tham gia ký kết.Từ ngày 16 tháng 11 năm 1994, Công ước chính thức có hiệu lực.

Nội dung Công ước bao gồm một loạt điều khoản. Những điều khoản quan trọng nhất quy định về việc thiết lập các giới hạn, giao thông đường biển, trạng thái biển đảo, và các chế độquá cảnh, cácvùng đặc quyền kinh tế, quyền tài phánthềm lục địa, khai khoáng lòng biển sâu, chính sách khai thác, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, và dàn xếp các tranh chấp.

Công ước quy định giới hạn cho các vùng khu vực, tính từđường cơ sở (baseline) được định nghĩa rõ ràng.Bao gồm:

- Nội thủy:Bao phủ tất cả vùng biển và đường thủy ở bên trong đường cơ sở (phía đất liền). Tại đây, quốc gia ven biển được tự do áp đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài không có quyền đi lại tự do trong các vùng nội thủy.

- Lãnh hải:Vùng nằm ngoài đường cơ sở có chiềurộng12 hải lý. Tại đây, quốc gia ven biển được quyền tự do đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài được quyền "qua lại không gây hại" mà không cần xin phép nước chủ. Đánh cá, làm ô nhiễm, dùng vũ khí, và do thám không được xếp vào dạng "không gây hại". Nước chủ cũng có thể tạm thời cấm việc "qua lại không gây hại" này tại một số vùng trong lãnh hải của mình khi cần bảo vệ an ninh.

- Vùng nước quần đảo:Công ước đưa ra định nghĩa về các quốc gia quần đảo, cũng như định nghĩa về việc các quốc gia này có thể vẽ đường biên giới lãnh thổ của mình như thế nào. Đường cơ sở được vẽ giữa các điểm ngoài cùng nhất của các đảo ở ngoài cùng nhất, đảm bảo rằng các điểm này phải đủ gần nhau một cách thích đáng. Mọi vùng nước bên trong đường cơ sở này sẽ là vùng nước quần đảo và được coi như là một phần của lãnh hải quốc gia đó.

- Vùng tiếp giáp lãnh hải: Bên ngoài giới hạn 12 hải lý của lãnh hải là một vành đai có bề rộng 12 hải lý, đó là vùng tiếp giáp lãnh hải. Tại đây, nước chủ có thể vẫn thực thi luật pháp của mình đối với các hoạt động như buôn lậu hoặc nhập cư bất hợp pháp.

- Vùng đặc quyền kinh tế: Rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong vùng này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền trong việc khai thác đối với tất cả các tài nguyên thiên nhiên. Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ngoài có quyền tự do đi lại bằng đường thủy và đường không, tuân theo sự kiểm soát của quốc gia ven biển. Nước ngoài cũng có thể đặt các đường ống ngầm và cáp ngầm.

- Thềm lục địa: là vành đai mở rộng của lãnh thổ đất cho tới mép lục địa (continental margin), hoặc 200 hải lý tính từ đường cơ sở, chọn lấy giá trị lớn hơn. Thềm lục địa của một quốc gia có thể kéo ra ngoài 200 hải lý cho đến mép tự nhiên của lục địa, nhưng không được vượt quá 350 hải lý, không được vượt ra ngoàiđường đẳng sâu 2500m một khoảng cách quá 100 hải lý. Tại đây, nước chủ có độc quyền khai thác khoáng sản và các nguyên liệu không phải sinh vật sống.

Cùng với các điều khoản định nghĩa các ranh giới trên biển, Công ước còn quy định các nghĩa vụ tổng quát cho việc bảo vệ môi trường biển và bảo vệ quyền tự do nghiên cứu khoa học trên biển. Công ước cũng tạo ra một cơ chế pháp lý mới cho việc kiểm soát khai thác tài nguyên khoáng sản tại các lòng biển sâu nằm ngoài thẩm quyền quốc gia, được thực hiện thôngquaỦy ban đáy biển quốc tế (International Seabed Authority).

Các nước không có biển được quyền có đường ra biển mà không bị đánh thuế giao thông bởi các nước trên tuyến đường nối với biển đó.

Các quốc gia tham gia Công ước

   đã phê chuẩn

   đã kí nhưng chưa phê chuẩn

   chưa kí

Bắt đầu kítừ10 tháng 12 năm 1982. hiệu lực từ 16 tháng 11 năm 1994.

Các nước đã kí nhưng chưa phê chuẩn (24): Afghanistan, Bhutan, Burundi, Campuchia, Cộng hòa Trung Phi, Chad, Colombia, Cộng hòa Congo, Cộng hòa Dominica, El Salvador, Ethiopia, Iran, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Liberia, Libya, Liechtenstein, Malawi, Niger, Rwanda, Swaziland, Thụy Sĩ, Thái Lan, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Hoa Kỳ.

Các nước chưa kí (17): Andorra, Azerbaijan, Ecuador, Eritrea, Israel, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Peru, San Marino, Syria, Tajikistan, Đông Timor, Thổ Nhĩ Kì, Turkmenistan, Uzbekistan, Tòa thánh Vatican, Venezuela.

Các từ khóa theo tin:

(Từ nguồn:Internet)

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) (06/05/2013)
Hội đồng hợp tác an ninh châu Á - Thái Bình Dương (CSCAP) (22/11/2011)
Liên đoàn Arập (AL) (22/04/2011)
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) (01/12/2010)
Nhóm 20 nền kinh tế lớn (G20) (19/11/2010)
Quỹ Đầu tư phát triển Liên hợp quốc (UNCDF) (12/11/2010)
Uỷ ban Kinh tế - Xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) (08/11/2010)
Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN (ACWO) (22/10/2010)
Liên minh châu Phi (AU) (07/09/2010)
Uỷ ban Kỹ thuật điện quốc tế (IEC) (02/05/2010)
 Trang 1 / 3 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) (18/12/2008)
Liên minh Bưu chính thế giới (UPU) (16/12/2008)
Cơ quan Phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) (12/12/2008)
Cao uỷ Liên hợp quốc về Người tị nạn (UNHCR) (20/11/2008)
Khuôn khổ Hỗ trợ phát triển Liên hợp quốc (UNDAF) (20/11/2008)
Chương trình Lương thực thế giới (WFP) (19/11/2008)
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) (14/11/2008)
Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) (13/11/2008)
Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) (10/11/2008)
Tòa án Quốc tế Liên hợp quốc (31/10/2008)
 Trang 1 / 5 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Đồng chí Lê Hồng Anh thăm Trung Quốc
· Hà Nội: Thông tin về các sai phạm tại xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai
· Tổng thống Nga Vladimir Putin dự kiến thăm Nhật Bản
· Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì phiên họp Ủy ban đổi mới giáo dục và đào tạo
· Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp mặt đại biểu Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương
· Điều tra lại vụ Cảnh sát giao thông bắn người tại Đồng Nai
· Xuất cấp 772 tấn gạo hỗ trợ tỉnh Ninh Thuận
· Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục kiến thức quốc phòng – an ninh
· Hà Nội: Khẩn trương rà soát, làm rõ chức năng của Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ phẫu thuật nụ cười
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : thuky.dcsvn@gmail.com
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet