Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 31 tháng 10 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
16:16 | 31/10/2006
(ĐCSVN) - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia vừa xuất bản cuốn sách: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” của tập thể các tác giả: Nguyễn Văn Yểu, GS,TS Lê Hữu Nghĩa (Đồng Chủ biên), GS,TS Trần Ngọc Đường, TS Nguyễn Văn Hiện, TS Vũ Đức Khiển, GS,TS Nguyễn Ngọc Long, TS Uông Chu Lưu, TS Thang Văn Phúc, GS,VS Nguyễn Duy Quý, TS Nguyễn Viết Thông, TS Nguyễn Văn Thuận, PGS,TS Đức Vượng.
Bản thảo cuốn sách dựa trên cơ sở Báo cáo tổng kết 20 năm đổi mới về Nhà nước của Nhóm 4 (Tổng kết về Nhà nước thời kỳ đổi mới).
1. Cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong thời kỳ Việt Nam tiến trên con đường đổi mới. Những tiền đề để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân tích trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng những tư tưởng, quan điểm về pháp quyền, nhân quyền (quyền con người), quyền tự do, dân chủ, về bản chất, vai trò của luật pháp trong xã hội Việt Nam. Người chỉ ra rằng, pháp quyền là “thần linh”, luật pháp là phương tiện để củng cố nhà nước, duy trì trật tự xã hội. Giữa pháp luật và nhà nước phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Để tạo nên sự ổn định của nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước vận hành đúng quỹ đạo, phát huy được hiệu lực quản lý, điều hành thì phải xây dựng được một hệ thống luật pháp đúng đắn. Ngay từ đầu, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định luật pháp Việt Nam là luật pháp thực sự dân chủ, bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Mọi người đều có quyền tham gia xây dựng pháp luật, bình đẳng trước pháp luật và tuân thủ pháp luật. “Dân chủ hoá trong đời sống chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá là một trong những tiền đề chính trị - tư tưởng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta” 1).
Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo, vừa là bộ phận của hệ thống ấy. Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên) là những bộ phận cấu thành cơ bản. Vì vậy, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được đặt trong bối cảnh đổi mới đồng bộ các thành tố cơ bản của cả hệ thống chính trị, trong mối quan hệ tác động qua lại giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
2. Cuốn sách đã phân tích cơ sở lý luận về nhà nước pháp quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trước thời kỳ đổi mới, việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và pháp luật được thực hiện trên cơ sở quan điểm phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp. Từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện, trong đó, lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm (trọng tâm), từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Trong quá trình đó đã nảy sinh quan niệm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tuy nhiên, đã có những quan điểm, quan niệm khác nhau về Nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Có ý kiến cho rằng, trong chế độ xã hội chủ nghĩa, không thể có nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền chỉ dành riêng cho nhà nước tư sản. Vì vậy, không thể ghép “nhà nước pháp quyền” với “chủ nghĩa xã hội” được.
Giải quyết vấn đề này phải dựa trên cơ sở nhận thức lý tính, chứ không thể theo nhận thức cảm tính. Hãy đi từ cội nguồn của thuật ngữ “nhà nước pháp quyền”. Thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” do các chuyên gia về hiến pháp và luật pháp người Đức và người Áo nêu ra lần đầu tiên vào đầu thế kỷ XIX. Những người đầu tiên nêu ra thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” không hề nói việc xây dựng nhà nước pháp quyền là của nhà nước tư sản, hoặc nhà nước nào. Vì vậy, ai đó, nói “nhà nước pháp quyền” là của “nhà nước tư sản” là không đúng. Từ đấy, thuật ngữ này được áp dụng tại nhiều nước theo một tiêu chí như một chế độ nhà nước, và nó có thể so sánh được với quá trình phát triển khái niệm “nhân quyền”.
Khi nói đến “nhà nước” là nói đến một tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan chuyên chính của một giai cấp nắm quyền thống trị về kinh tế. Khi nói đến “pháp quyền” là nói đến hệ thống luật pháp tiêu biểu cho quyền lực của một nhà nước, cho bản chất của một chế độ. Có nhà nghiên cứu cho rằng, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước, mà là một hình thức phân công và tổ chức quyền lực nhà nước. Đến nay, trong lịch sử loài người đã trải qua bốn kiểu nhà nước: nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có ba kiểu bóc lột chủ yếu: bóc lột theo kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ, bóc lột theo kiểu nhà nước phong kiến, bóc lột theo kiểu nhà nước tư sản. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước mới, nhà nước dân chủ theo kiểu mới và chuyên chính theo kiểu mới, khẳng định nhân dân lao động là chủ thể xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa thủ tiêu chế độ người bóc lột người, xây dựng một xã hội do nhân dân lao động làm chủ. Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Bản chất của một nhà nước pháp quyền cùng với tiêu chí của nó cũng chưa được xác định một cách rành mạch. Một nhà nghiên cứu người Đức, GS,TS Umbach cho rằng, qua các cuộc thảo luận về ý nghĩa của thuật ngữ “pháp quyền” mang lại ít kết quả, vì nó rất trừu tượng. Theo Ông, yêu cầu về pháp chế đã được xây dựng và thực hiện ở các quốc gia sẽ có ý nghĩa nhiều hơn. Với Ông, các đặc điểm khác nhau của nhà nước pháp quyền được thể hiện theo nhiều cách, được chia thành nhóm và phân loại các thành phần. Nhưng các chuyên gia, luật gia người Đức không có một thoả thuận nào về vấn đề này. Qua mạng thông tin internets, chúng ta thấy trong giới nghiên cứu và giới báo chí của nhiều nước hiện đang nói nhiều đến “nhà nước pháp quyền” (Trung Quốc nói “nhà nước pháp trị”), coi đó như một xu thế để phát triển nhà nước hiện đại trong tình hình thế giới hiện nay. Một số nhà khoa học trên thé giới cho rằng, không có “khuôn chung” cho một “nhà nước pháp quyền”, mà nên theo mô hình nhà nước pháp quyền của nước mình. Vấn đề đặt ra là phải bảo đảm quyền cơ bản của con người. Gần đây, ông Bery Hagơ thuộc Trung tâm Mansfield về các vấn đề Thái Bình Dương có đưa ra một số vấn đề có tính nguyên tắc của một nhà nước pháp quyền: một là, khi cơ quan lập pháp thông qua một đạo luật, công dân phải có quyền xem xét tính hợp hiến của đạo luật đó; hai là, khi cơ quan hành pháp tiến hành khởi kiện, công dân phải có quyền xem xét tính hợp pháp và hợp hiến của vụ kiện đó; ba là, khi cơ quan tư pháp tiến hành khởi kiện, công dân phải có quyền kháng cáo đối với vụ kiện đó. Cả ba vấn đề mà mà ông Bery Hagơ nêu lên đều nhằm vào quyền và trách nhiệm của công dân đối với vấn đề lập pháp, hành pháp, tư pháp trong một nhà nước pháp quyền. Ông xem đó là quyền cơ bản của con người trong nhà nước pháp quyền. Nghiên cứu của Ông về nhà nước pháp quyền là nghiêng về quyền công dân. Ông Ibrahim Shihata, luật sư của Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa tóm tắt về nhà nước pháp quyền là nhà nước mà “các nguyên tắc về quyền hạn của chính phủ phải theo đúng pháp luật; các toà án độc lập; sự minh bạch của pháp luật và việc giám sát tư pháp về tính hợp hiến của các đạo luật và các văn bản pháp quy khác” 2).
Vấn đề phân chia quyền lực của nhà nước pháp quyền cũng được đặt ra để nghiên cứu. Nhiều nước hiện đang áp dụng mô hình “tam quyền phân lập”, bảo đảm cho các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp hoạt động riêng biệt và không nhất thiết phải có sự “ăn khớp” với nhau. Họ cho rằng, sự mâu thuẫn trong công vụ pháp lý nhiều khi lại bảo đảm lẽ phải và công lý và phần nào khắc phục được những vụ án oan sai. Vì vậy, quan điểm nhận thức của họ về “tam quyền phân lập” là sự cần thiết trong nhà nước pháp quyền và trong bộ máy công quyền. Trên thực tế, đã có tác dụng nhất định khi chế độ nhà nước thực hiện “tam quyền phân lập”. Vì vậy, sẽ là không đúng, nếu phủ nhận sạch trơn học thuyết “tam quyền phân lập”. Tuy nhiên, khi nhà nước tư sản thực hiện “tam quyền phân lập” cũng đã gặp phải những trở ngại nhất định trong khi xử lý những vấn đề cần thống nhất mà không thống nhất được.
Một xu hướng nghiên cứu hiện nay là xác định tính độc lập của ngành tư pháp trong nhà nước pháp quyền. Các nhà nghiên cứu về xu hướng này cho rằng, nếu ngành tư pháp không được bảo đảm hoạt động độc lập, thì nhà nước đó không phải là nhà nước pháp quyền thực sự. Tương tự như vậy, sự phán quyết của toà án trong một vụ án là sự trợ giúp việc thực thi pháp lý đúng đắn nhất nếu cơ quan tư pháp thực sự có vai trò độc lập, tức là không chịu ảnh hưởng về nhân sự, tổ chức bộ máy và tài chính của hành pháp. Dù sao, việc bảo đảm các quyền cơ bản và quyền dân sự là rất quan trọng. Vấn đề đặt ra là nhà nước phải tự kiềm chế, không can thiệp, vi phạm các quyền này và nó được bảo đảm bằng luật pháp. Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ những lợi ích hợp pháp của công dân. Nhà nước pháp quyền không can thiệp vào các quyền của công dân một cách không cần thiết.
Nhìn chung, sự nghiên cứu về nhà nước pháp quyền của các nhà khoa học trên thế giới cũng chỉ mới dừng lại ở từng mảng. Còn trong cuốn sách này, các tác giả đã góp vào nghiên cứu chung một số vấn đề về nhà nước pháp quyền: nhà nước pháp quyền là nhà nước hoạt động bằng pháp luật và theo pháp luật; nhà nước pháp quyền là nhà nước được thực thi bởi một bộ máy hành pháp mà hệ thống chính quyền phải thực sự có năng lực điều hành, quản lý bộ máy đó; nhà nước pháp quyền bảo đảm tính độc lập về chuyên môn của các cơ quan tư pháp, một bộ phận cấu thành tổ chức nhà nước.
Tại Việt Nam, thuật ngữ “xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” xuất hiện lần đầu trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (tháng 1 - 1994). Hội nghị Trung ương 8 Khoá VII của Đảng (tháng 1 - 1995) tiếp tục đặt vấn đề “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) nhấn mạnh: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 Khoá VIII của Đảng (tháng 6 - 1997) về tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, có một nhận định quan trọng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Đảng đã “từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”. Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đặt vấn đề tiếp tục “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khoá IX của Đảng (tháng 1 - 2004) khẳng định: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Đó là một hệ thống phương hướng của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây là một vấn đề rất mới ở Việt Nam, nên nghị quyết của Đảng cũng chỉ phác thảo ra những hướng chung nhất về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải xây dựng được một hệ thống lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa có giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung, vừa phải thể hiện được những đặc trưng, bản chất, bản sắc của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam.
Cơ sở kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở chính trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cơ sở xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
3. Cuốn sách đã phân tích về những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: 1/ Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đây là đặc trưng (còn là một nguyên tắc) cơ bản. 2/ Xác định quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đây vừa là đặc trưng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy nhà nước. 3/ Hiến pháp và luật pháp giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. 4/ Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời, tăng cường kỷ cương, kỷ luật. 5/ Nhà nước tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 6/ Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sự giám sát của nhân dân và sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
4. Cuốn sách đã nêu những luận điểm về tổ chức và phân công quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Văn kiện Đại hội X của Đảng (năm 2006) chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” 3). Như vậy, vấn đề đã được xác định là ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Nguyên tắc chung của vấn đề tổ chức và phân công quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được các tác giả xác định khá rõ trong cuốn sách: 1/ Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. 2/Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. 3/ Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. 4/ Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
5. Ngoài ra, cuốn sách còn trình bày một cách có hệ thống về đổi mới tư duy qua 20 xây dựng Nhà nước Việt Nam, trong đó có 12 năm (tính từ năm 1994, khi thuật ngữ “ Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” xuất hiện lần đầu trong văn kiện của Đảng) xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; quan điểm về Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý; phát huy dân chủ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội; đổi mới hoạt động hành pháp của Chính phủ, đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước; tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp; một số vấn đề về mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Khép lại 454 trang sách khổ lớn, cuốn sách: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” đã cung cấp cho bạn đọc những tài liệu tham khảo quý.

PGS,TS Đức Vượng

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Tuyển tập 10 năm chính luận của nhà báo Hà Đăng “Cái mới trong đổi mới” (15/05/2007)
Thêm một cuốn sách quý về Tổng Bí thư thời kỳ đầu đổi mới –“ Nguyễn Văn Linh  - Tiểu sử” (29/03/2007)
Đỗ Mười - Những bài nói và viết chọn lọc (22/02/2007)
Đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới (25/01/2007)
Về đánh gía nhiệm vụ khoa học và công nghệ ở Việt Nam (24/01/2007)
Lịch sử Chính phủ Việt Nam (tập 1, 1945 – 1955) (17/11/2006)
Lịch sử Chính phủ Việt Nam (tập 1, 1945 – 1955) (14/11/2006)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Tạm đình chỉ công tác 3 cảnh sát giao thông Hà Nội liên quan đến nghi vấn hành hung phóng viên
· Đoàn công tác của Tiểu ban Văn kiện Đại hội XII của Đảng làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh
· Chính phủ chỉ đạo thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu gắn với tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
· Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII: Nợ công vẫn trong giới hạn cho phép
· Thông cáo số 9 Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII
· Việt Nam vẫn rất cần nguồn vốn ODA
* Quốc hội cần giám sát nguồn vốn ODA
· Cần có chính sách tạo điều kiện cho ngư dân phát triển
· Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp lãnh đạo Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam
· Giao tranh và cướp bóc gây nhiều thương vong ở Ukraine
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet