Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 25 tháng 4 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  kythuat@cpv.org.vn
dangcongsan@cpv.org.vn
Vị thế của Việt Nam trong quan hệ hợp tác ASEAN
15:22 | 02/08/2005
New Page 1

(ĐCSVN)- 10 năm chưa phải là dài, song với những kết quả, thành tựu chúng ta đạt được đã khẳng định Việt Nam ngày càng có vị thế vững vàng hơn trong tiến trình hội nhập ASEAN, nhưng để tiếp tục phát triển chúng ta cần phải nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức.

 

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức Hiệp hội  các nước Đông Nam Á (ASEAN) kể từ ngày 28/7/1995. Từ đó đến nay đã tròn 10 năm, tuy là thành viên mới nhưng Việt Nam đã nỗ lực phấn đấu để nhanh chóng hội nhập và khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tổ chức này.

 

1. Tham gia vào Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và từng bước tiến nhanh, hội nhập vào Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Việt Nam đã  góp phần mở rộng và phát triển số thành viên ASEAN từ 7 nước lên 10 nước, tăng cường các quan hệ kinh tế thương mại, đầu tư... và giao lưu phát triển văn hoá, thể thao... với các nước ASEAN khác. Không những thế, Việt Nam còn là nước có nhiều nỗ lực góp phần tăng cường sự đoàn kết hợp tác giữa các nước ASEAN+3 (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) cũng như với Nga, Mỹ, Ôxtrâylia... và một số tổ chức liên kết khu vực khác. Đáng lưu ý Việt Nam đã đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (tháng 12/1998) và Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 33 (12-16/9/2001) tại Hà Nội. Không những thế, Việt Nam còn là quốc gia luôn có sáng kiến hay đưa ra trong các cuộc họp. Ví dụ, tại Hội nghị APEC-11 “Thế giới của sự khác biệt: Đối tác vì tương lai” tổ chức tại Bangkok, Thái Lan (20-21/10/2003), Việt Nam đã đưa ra hai sáng kiến: thứ nhất, cần tăng cường hợp tác đầu tư cho cân bằng với hợp tác thương mại nhằm thúc đẩy đầu tư nội khối APEC, trong đó dành ưu tiên đầu tư vào ASEAN; thứ hai, đưa ra một số biện pháp cụ thể triển khai kế hoạch hành động hỗ trợ các doanh nghiệp vừa, nhỏ và “siêu nhỏ”, trong đó có việc đề xuất thành lập Quỹ xây dựng năng lực hỗ trợ các doanh nghiệp “siêu nhỏ”. Chỉ 4 năm sau khi gia nhập APEC, Việt Nam đã đề xuất đăng cai Hội nghị cấp cao APEC-14 vào năm 2006 và được APEC ủng hộ... Đặc biệt, năm 2004, trong các ngày 7-9 tháng 10 Việt Nam với tư cách là nước chủ nhà đã tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn cấp cao hợp tác Á-Âu lần thứ 5 (ASEM-5) tại Hà Nội. Tại Hội nghị này, với nhiều sáng kiến đưa ra và những nỗ lực hoạt động đóng góp vào kết quả chung, chúng ta đã làm đẹp thêm hình ảnh một nước Việt Nam năng động, ổn định, giàu tiềm năng , đáng tin cậy và đang chủ động hội nhập quốc tế theo tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình và phát triển(1)...

 

Ngoài việc nỗ lực với các hoạt động chung trên đây, Việt Nam cũng luôn luôn chú ý tăng cường hơn nữa các mối quan hệ hợp tác toàn diện về nhiều lĩnh vực với các nước thành viên khác của ASEAN, trong đó sôi động nhất vẫn là ở lĩnh vực kinh tế. Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức do sự chênh lệnh về trình độ phát triển, Việt Nam đã tham gia tích cực vào các chương trình hợp tác, liên kết kinh tế như Hiệp định đầu tư ASEAN (AIA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)... đồng thời đưa ra sáng kiến phát triển kinh tế các vùng nghèo liên quốc gia dọc hành lang Đông-Tây (WEC) tạo ra bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế Việt Nam với khu vực và thế giới. Kim ngạch thương mại xuất nhập khẩu Việt Nam- ASEAN tăng trung bình  15,8% hàng năm. Đến tháng 3/2005; Việt Nam đã cắt giảm 10.277 dòng thuế, tương đương với 96,15% tổng số dòng thuế phải cắt giảm trong khuôn khổ CEPT/AFTA. Trong hợp tác đầu tư, tính đến cuối tháng 6/2005, ASEAN đã đầu tư hơn 600 dự án với số vốn đăng ký là 11,385 tỷ USD, chiếm 23,38% tổng số FDI vào Việt Nam. Tăng cường hợp tác kinh tế Việt Nam- ASEAN đã góp phần làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh trong nước, là sự tập dượt trước khi Việt Nam tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)...(2)

 

Việt Nam có được vị thế ngày càng vững mạnh trên trường quốc tế và đặc biệt là ở khu vực Đông Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng như đã kể ra ở mức độ khái quát nhất trên đây là do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau cùng tác động, trong đó có hai nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất. Thứ nhất, đó là Việt Nam đã thực hiện có hiệu quả cao đường lối đối ngoại rộng mở và đúng đắn phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá hiện nay. Thứ hai, các đối tác của Việt Nam trong đó có các nước ASEAN đều đã nhìn thấy hiện thực và tiềm năng phát triển của Việt Nam ở tất cả mọi lĩnh vực mà họ có thể hợp tác cùng phát triển, trong đó trước hết là các lợi ích về phát triển kinh tế và nâng cao vị thế chính trị ở khu vực và trên thế giới, vì như đã biết Việt Nam là quốc gia có vị trí tiền đồn về an ninh chính trị đối ngoại ở Đông Nam Á và hơn thế nữa Việt Nam đang là “miền đất hứa” có nhiều tiềm năng về các nguồn lực tài nguyên, lao động và lại đang rất ổn định về chính trị-xã hội... Thực tế cho thấy, đến nay Việt Nam đã có quan hệ với hầu hết các tổ chức tiền tệ và tài chính quốc tế như IMF, WB, ADB... Việt Nam cũng đã quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế với hơn 150 nước và lãnh thổ trên thế giới, đã ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, Hiệp định đầu tư song phương với 40 nước và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 40 nước khác. Hiện nay Việt Nam đang xúc tiến đàm phán việc thực hiện được mong muốn trở thành thành viên chính thức của WTO vào năm 2005, trước khi kết thúc vòng đàm phán Đô-ha... Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta đã chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, liên tục đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 7% năm, năm 2004 đã đạt  7,6% và năm nay 2005 quyết tâm phấn đấu sẽ đạt ở mức cao hơn là từ 8% - 8,5% sắp tới như kỳ họp thứ sáu của Quốc hội khoá XI đã đề ra(3).

 

2. Mặc dù Việt Nam đã và đang tiếp tục tạo dựng được một vị thế vững vàng và triển vọng phát triển sáng sủa như vậy, song nghiêm túc nhìn nhận, chúng ta còn phải nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa, cao hơn nữa để đến năm 2020 mới có thể thực hiện được mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX (2001) đã đề ra là trở thành nước công nghiệp. Trước mắt, chúng ta cần phải nỗ lực phấn đấu vượt qua một số trở ngại, thách thức lớn nhất sau đây trong tiến trình hội nhập ASEAN nói riêng và hội nhập kinh tế quốc tế nói chung

 

Thứ nhất, mặc dù nền kinh tế Việt Nam đã duy trì liên tục được sự tăng trưởng khả quan như trên đã đề cập, vào loại nhanh thứ hai ở châu Á, chỉ sau có Trung Quốc, song có điều chưa thể hoàn toàn yên tâm với thành tích này vì nỗi lo về nguy cơ tụt hậu vẫn còn đó. Các số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê vào năm 2004 đã cho thấy, nếu xét theo GDP thực tế, Việt Nam hiện vẫn chỉ ở vị trí xếp hạng lớn thứ 7 trong khối 10 nước ASEAN (ta chỉ đứng trước Brunây, Campuchia và Lào) và đứng thứ 58 trên thế giới, vẫn thuộc vào nhóm nước nghèo.

 

Việc đánh giá về trình độ phát triển kinh tế có thể căn cứ vào chỉ tiêu GDP như trên, song có một loại chỉ tiêu khác rất quan trọng phản ánh thực chất mức sống của người dân và cũng là thể hiện tương đối toàn diện về trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước đó là chỉ tiêu GDP bình quân đầu người. Ta hãy thử so sánh chỉ tiêu đó của Việt Nam với Trung Quốc và Thái Lan là hai nước cùng khu vực và hơn nữa cùng trong khối ASEAN+3 với Việt Nam.

 

Bảng 1: So sánh GDP bình quân đầu người Việt Nam - Trung Quốc (USD)

 

 

1998

2001

2002

2003

Trung Quốc

740

890

940

1120(4)

Việt Nam

350

410

430

500(5)

Hệ số chênh lệch TQ/VN (lần)

2,11

2,17

2,18

2,24

 

Qua biểu trên, ta thấy rõ hệ số chênh lệch ngày càng lớn, cũng có nghĩa là mức tụt hậu của nền kinh tế nước ta so với nền kinh tế Trung Quốc đã ngày càng xa hơn.

 

Cũng theo phương pháp tiếp cận tương tự, ta hãy so sánh mức GDP bình quân đầu người giữa Việt Nam và Thái Lan qua bảng dưới đây:

 

Bảng 2: So sánh GDP bình quân/người giữa Việt Nam và Thái Lan (USD)

 

 

2002

2003

2004

2005 *

Thái Lan

2043

2173

2346

2580

Việt Nam

439

471

509

549

Hệ số so sánh TL/VN (lần)

4,65

4,61

4,60

4,69

 

 Nguồn: Số liệu của ASEAN Statistic Unit

             *Dự báo Thái Lan sẽ tăng 10% GDP

 

Rõ ràng là, ta thấy hệ số so sánh có xu thế tăng lên, cũng có nghĩa là mức tụt hậu của nền kinh tế Việt Nam so với Thái Lan cũng ngày càng nặng nề hơn và mức tụt hậu của Việt Nam so với Thái Lan còn xa hơn so với Trung Quốc.

 

Đối với các nước công nghiệp phát triển khác , có mức độ thu nhập gấp 10 lần hay 15 lần của Thái Lan, nếu họ chỉ tăng 2,5% mỗi năm thôi, phần thu nhập giàu thêm của họ chắc chắn cũng gấp hơn 20 lần so với ta.

 

Từ tương quan so sánh về hai loại chỉ tiêu kinh tế cơ bản trên đây cho thấy rõ ràng nỗi lo về nguy cơ tụt hậu của Việt Nam trên thế giới, trước hết là trong khu vực vẫn còn đó. Ngoài ra còn phải kể đến một số trở ngại, bất cập khác mà chúng ta chưa thể vượt qua được ngay trong thập niên này. Đó là sự tồn tại một hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật của nền sản xuất xã hội còn nhiều lạc hậu, bao gồm cả những vấn đề còn rất nan giải như hệ thống máy móc, thiết bị chủ yếu là ở các thế hệ cũ, thậm chí rất cũ, hệ thống giao thông - dịch vụ tài chính, ngân hàng... cùng với quá trình đô thị hoá tuy đã khá hơn nhiều so với trước song vẫn còn khấp khểnh chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự  phát triển bền vững ở nước ta. Về phương diện chính trị, xã hội và văn hoá, bên cạnh sự ổn định và phát triển đi lên là cơ bản, chúng ta vẫn còn quá nhiều nỗi lo về một xã hội “văn minh nửa chừng”. Nghĩa là, có những điều chúng ta đã đạt được ở trình độ trung bình khá hoặc tiên tiến của khu vực và thế giới, ví dụ như theo đánh giá của UNDP và WB về chỉ số giáo dục và chỉ số phát triển con người Việt Nam đều đạt ở mức khá. Nhưng đó là về đại thể, còn trên thực tế vẫn có không ít người, hiện nay vẫn còn những nhận thức lệch lạc trong cách sống, dẫn đến dễ bị tha hoá, biến chất thành những con người ích kỷ, thực dụng và do đó tệ nạn xã hội, tội phạm, mất an ninh trật tự xã hội cũng từ đó vẫn chưa thể giảm xuống được.

 

Liên quan đến vấn đề nguy cơ tụt hậu trên đây cũng cần phải kể đến một yếu kém của Việt Nam hiện nay, đó là năng lực cạnh tranh còn thấp, chậm được cải thiện. Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) xét về các chỉ số cạnh tranh của nền kinh tế, Việt Nam xếp thứ 48/53 nước được xem xét năm 1999, 60/75 nước năm 2001 và 65/80 năm 2002. Cụ thể, có thể kể ra nhiều yếu kém như sức cạnh tranh về năng lực quản lý doanh nghiệp còn yếu. Nhiều doanh nghiệp nhà nước tồn tại được là nhờ có sự bảo hộ, trợ cấp của Nhà nước. Tỷ lệ doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ còn lớn. Xét về tiêu chí cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá như giá cả, chất lượng, mạng lưới tổ chức tiêu thụ và uy tín doanh nghiệp thì sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam cũng còn thua kém hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Tình hình này nếu như từ nay đến năm 2006 khi hiệu lực của AFTA đối với Việt Nam được thực thi liệu hàng hoá của chúng ta kể cả hàng xuất khẩu lẫn hàng tiêu dùng nội địa có đủ sức cạnh tranh với hàng hoá của tất cả các nước ASEAN không? đó là chưa kể từ nay đến năm 2010 nếu như Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc, và có thể có cả Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Nhật Bản trở thành hiện thực, tiến tới ASEAN+3, thậm chí mở rộng hơn nữa thành ASEAN+4 hay +5, +6 ... trở thành một khu vực thương mại tự do rộng lớn toàn Đông Á, thì Việt Nam sẽ phải làm  thế nào để hàng hoá của mình, nền kinh tế của mình đủ sức cạnh tranh với tất cả các đối tác khác.

 

Chúng ta đang mong muốn vào WTO, vì vào được tổ chức thương mại tự do lớn nhất thế giới đó sẽ có nhiều thuận lợi trong liên kết, hợp tác phát triển kinh tế, đặc biệt là về thương mại và đầu tư. Nhưng nếu chúng ta không nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá của nền kinh tế Việt Nam thì chắc chắn chúng ta sẽ gặp phải nhiều khó khăn, thách thức, phải trả giả đắt cho sự yếu kém, thua thiệt.

 

Thứ hai, một khó khăn, thách thức lớn đối với Việt Nam và có lẽ không chỉ riêng với Việt Nam mà kể cả số các nước khác trong khối ASEAN  đang vẫn còn tồn tại ít nhiều những nét chưa tương đồng về trình độ phát triển kinh tế, đời sống văn hoá, thể chế chính trị - xã hội...

Sự khác biệt đó khiến chúng ta có thể sẽ gặp khó khăn, bất cập trong quan hệ hợp tác phát triển với  các nước  ASEAN vì thế đòi hỏi phải có sự năng động, khôn khéo và nguyên tắc cơ bản đặt ra là cần tôn trọng chủ quyền đất nước và thể chế chính trị - xã hội của nhau. Nhận thức và hành động như vậy không phải chỉ riêng với tiến trình hội nhập ASEAN mà kể cả với toàn bộ tiến trình hội nhập khu vực và toàn cầu.

 

Trên đây là hai khó khăn, thách thức lớn nhất đặt ra mà chúng ta cần phải nỗ lực phấn đấu vượt qua trong tiến trình hội nhập có hiệu quả vào ASEAN. Đương nhiên còn có thể kể ra một số khó khăn, thách thức lớn khác. Đó là những hạn chế, bất cập của nguồn nhân lực Việt Nam trước yêu cầu cao của hội nhập quốc tế và khu vực; những yếu kém của cơ chế quản lý hành chính Việt Nam hiện nay mặc dù chúng ta đã cải cách, đổi mới nhiều... Và ngoài ra còn những khó khăn, thách thức lớn từ bối cảnh quốc tế và khu vực đưa lại, trong đó phải kể đến sự thiếu thiện chí đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam của một số thế lực đối lập, thậm chí thù địch với định hướng tiến lên CNXH ở Việt Nam; những đe doạ đối với an ninh phát triển của toàn cầu, trong đó đáng lo ngại nhất hiện nay là tình trạng môi trường thiên nhiên ngày càng xấu hơn, thiên tai, dịch bệnh do đó càng gia tăng mạnh, chủ nghĩa khủng bố vẫn đang là hiểm hoạ lớn nhất của loài người... Những vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải hết sức cảnh giác, chủ động phòng chống một cách tích cực và có hiệu quả nhất.

 

TS. Trần Anh Phương

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Trang phục của bị cáo trước “vành móng ngựa”
· Đồng chí Võ Văn Minh được bầu làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương
· Bộ Công thương ra Chỉ thị về công khai, minh bạch giá điện, xăng
· Chuẩn bị sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị
· Hàn Quốc xác nhận 153 người thiệt mạng trong vụ chìm phà Sewol
· Thủ tướng phê chuẩn nhân sự UBND tỉnh Hà Nam và Lào Cai
· Tổng thống Mỹ ủng hộ Nhật Bản trong tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư
· Mở cao điểm bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường thủy
· Tăng cường công tác đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet