Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 28 tháng 8 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  bandoc.dcsvn@gmail.com
thuky.dcsvn@gmail.com
Những định hướng hợp tác chính của APEC trong thời gian tới
09:11 | 04/03/2006
(ĐCSVN)- Sau 15 năm tồn tại và phát triển, APEC đã có những thành tựu và đóng góp đáng kể trong việc thúc đẩy hợp tác kinh tế - thương mại, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Hợp tác APEC thời gian qua tương đối được mở rộng mặc dù bối cảnh chính trường thế giới có nhiều bất ổn. Mối đe dọa về chiến tranh và chủ nghĩa khủng bố liên tục leo thang đã khiến nhiều thành viên APEC quan tâm hơn đến các vấn đề an ninh và chính trị dù mục tiêu ban đầu mới thành lập của APEC là một diễn đàn hợp tác kinh tế thuần tuý. Một trong những thành viên đi đầu trong việc đưa ra các sáng kiến mới cho hợp tác APEC là Mỹ. Dựa trên diễn biến thời gian qua trong APEC, nhiều thành viên e ngại rằng Mỹ và một số thành viên phát triển của APEC đang có xu hướng chính trị hóa APEC, biến APEC thành một diễn đàn phục vụ cho các mục tiêu phi thương mại hơn là hợp tác kinh tế.
Bên cạnh đó, diễn biến chậm chạp của Vòng đàm phán Đô-ha cũng ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ chương trình nghị sự APEC. Trong vài năm gần đây, Hợp tác kinh tế APEC thường tập trung vào các vấn đề sau: Hỗ trợ tích cực tiến trình đàm phán trong khuôn khổ WTO; Thoả thuận Thương mại tự do song phương và khu vực (RTAs/FTAs); Thương mại và An ninh khu vực; Thuận lợi hoá thương mại; Triển khai các Tiêu chuẩn Minh bạch hoá APEC; Cải cách Cơ cấu; Xây dựng năng lực; Rà soát giữa kỳ quá trình thực hiện Mục tiêu Bogor; Tăng cường đối thoại với các đối tác liên quan của APEC; Cải tổ APEC theo hướng đơn giản, gọn nhẹ và hiệu quả hơn.
Trong thời gian tới, APEC tập trung vào một số vấn đề chính sau:
Thứ nhất, mục tiêu Bogor và 3 trụ cột chính
Năm 2005 đánh dấu nửa chặng đường thực hiện các Mục tiêu Bogor về tự do hoá thương mại và đầu tư vào năm 2010 đối với các thành viên phát triển và năm 2020 đối với các thành viên đang phát triển. Nhiều người coi việc các thành viên cam kết thực hiện Mục tiêu Bogor là việc lớn lao nhất và ý nghĩa nhất mà APEC đã làm được cho dù mục tiêu này không rõ ràng và mang ý nghĩa chính trị là chính. Việc thực hiện Mục tiêu Bogor được coi là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá sự thành công hay thất bại của APEC.
Với cách tiếp cận đó, năm 2010 được coi là một mốc vô cùng quan trọng của tiến trình APEC. Đó là thời điểm các thành viên phát triển phải đạt được mục tiêu Bogor về thương mại, đầu tư tự do và mở cửa đối với các thành viên khác. Nếu thực hiện được mục tiêu này sẽ tạo ra động lực và cả áp lực lớn lên các thành viên đang phát triển để có thể thực hiện được mục tiêu tương tự vào thời hạn 2020, thậm chí sớm hơn. Ngược lại, nếu các thành viên phát triển không thể hoặc không chủ ý thực hiện những cam kết tự do hoá và mở cửa thì APEC sẽ chịu tổn hại lớn về uy tín và độ tin cậy. Các thành viên sẽ không còn coi trọng APEC. Ý tưởng xây dựng Cộng đồng Châu Á - Thái Bình Dương sẽ bị sụp đổ. Và đó cũng có thể là dấu chấm hết cho APEC.
Trong bối cảnh đó, việc tiến hành rà soát giữa kỳ việc thực hiện mục tiêu Bogor (MTST) trong năm 2005 đó đưa ra một Lộ trình đến Bogor là một quyết định chính trị khôn ngoan nhằm tăng cường lòng tin đối với APEC, rằng APEC nói chung và mỗi cá nhân các nền kinh tế thành viên đều đang đi đúng hướng đến Mục tiêu Bogor. Kết quả của MTST cho thấy APEC đã đạt được nhiều thành công trong cả 3 trụ cột là Tự do hoá Thương mại và Đầu tư, Thuận lợi hoá Thương mại và Đầu tư (hay thuận lợi hoá kinh doanh) Hợp tác Kinh tế Kỹ thuật (ECOTECH) cũng như các lĩnh vực phi thương mại khác như chống tham nhũng, chống khủng bố, hợp tác phòng chống bệnh truyền nhiễm (HIV/AIDS, SARS, cúm gia cầm), v.v…
Năm 2005 với MTST vàLộ trình Busan đến Bogor tạo cảm giác tự do hoá thương mại và đầu tư đang là nội dung hợp tác quan trọng nhất của APEC. Nhưng trên thực tế, trong thời gian qua, đặc biệt từ khi EVSL thất bại, với những khó khăn đặt ra trong quá trình thực hiện tự do hoá, APEC đã tập trung nhiều hơn vào trụ cột Thuận lợi hoá. Có thể nói, đây cũng là lĩnh vực thu được nhiều kết quả thực chất nhất trong thời gian qua và sẽ tiếp tục là trọng tâm của APEC trong những năm tới.
ECOTECH cũng sẽ tiếp tục là một trụ cột không thể thiếu của APEC một khi còn có sự khác biệt đáng kể về trình độ phát triển giữa các thành viên. Tính đa dạng và không đồng đều về trình độ phát triển dẫn đến sự khác biệt về quan điểm, chính sách phát triển và khả năng thực hiện cam kết mở cửa của 21 nền kinh tế APEC. Do đó, nếu tiếp tục chủ trương đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư, các thành viên phát triển cần phải chú trọng hơn nữa đến hợp tác kinh tế kỹ thuật, tạo cơ sở và điều kiện cho các thành viên đang phát triển có thể thực hiện mục tiêu tự do hoá, góp phần thúc đẩy tiến trình tự do hoá của cả APEC. Do APEC không phải là một tổ chức viện trợ phát triển, ECOTECH sẽ được thúc đẩy theo hướng nâng cao về chất và hiệu quả, tập trung vào xây dựng năng lực, phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ. Không chỉ các thành viên đang phát triển được hưởng lợi từ ECOTECH mà các thành viên đang phát triển cũng có thể thông qua đó đó tăng cường vai trò và ảnh hưởng chính trị của mình trong APEC. Đó là cơ sở để tin tưởng ECOTECH sẽ có vai trò quan trọng trong tiến trình APEC.
Thứ hai, hướng đến một Cộng đồng Châu Á - Thái Bình Dương
Từ sau sự kiện khủng bố ngày 11/9/2001, an ninh đã trở thành một nội dung nóng bỏng và gây nhiều tranh cãi tại các hội nghị APEC gần đây. Thậm chí đã có quan điểm cho rằng hợp tác về an ninh sẽ trở thành trụ cột thứ tư của APEC. Dưới áp lực của Mỹ khả năng đó không thể bị loại trừ.
Như vậy, rõ ràng giờ đây APEC không chỉ còn đơn thuần là một diễn đàn hợp tác kinh tế. Có thể coi APEC đã bị phi kinh tế hoá hoặc chính trị hoá. Nhưng với một cách tiếp cận khác, cũng có thể đánh giá là hợp tác APEC đang ngày càng trở nên toàn diện hơn. APEC giờ đây không chỉ có TILF và ECOTECH; mục tiêu của APEC sẽ không chỉ là Bogor. Mặc dù còn lâu mới đến thời hạn 2010/2020, nhưng đã đến lúc phải xác định mục tiêu Bogor chỉ là cái đích của một giai đoạn trong cả tiến trình APEC. Vậy xa hơn Bogor sẽ là gì?
Từ rất sớm, các nhà lãnh đạo APEC đã nhìn thấy triển vọng của một Cộng đồng Châu Á - Thái Bình Dương. Tuyên bố Seattle năm 1993 lần đầu tiên chính thức đề cập đến khái niệm một Cộng đồng Châu Á - Thái Bình Dương “an toàn, ổn định và thịnh vượng”. Nhiều ý kiến cho rằng để tránh tình trạng APEC thiếu định hướng dài hạn, đã đến lúc phải nhìn xa hơn mục tiêu Bogor và xác định xây dựng cộng đồngmới là mục tiêu cao nhất của tiến trình APEC. Đây là một xu thế được phản ánh phần nào qua chủ đề chính của 2 Hội nghị Thượng đỉnh APEC gần đây nhất: “Một cộng đồng – Tương lai của chúng ta” (Chilê 2004) và “Hướng tới một cộng đồng: đối đầu với thách thức, tạo ra sự thay đổi” (Hàn Quốc 2005) và chắc chắn sẽ được tiếp nối trong năm 2006.
Trên thực tế, sau 15 năm tồn tại và phát triển, APEC đã dần mang những yếu tố và đặc điểm của một cộng đồng; quá trình xây dựng cộng đồng đã được bắt đầu trong nhiều lĩnh vực hợp tác của APEC. Gần đây, bắt đầu xuất hiện ý tưởng thay đổi tên gọi của APEC từ “Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương” thành “Cộng đồng Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương” (“cooperation” thành “Community” thay “c nhỏ” thành “C lớn”). Tuy nhiên, sự mở rộng phạm vi nội dung hợp tác của APEC trong những năm gần đây cho thấy APEC đang hướng đến một cộng đồng rộng hơn là một “Cộng đồng Kinh tế” đơn thuần.
Câu hỏi tiếp theo được đặt ra là Cộng đồng Châu Á – Thái Bình Dương có dựa trên những nguyên tắc cơ bản của APEC hiện nay không. Thời gian qua, giới nghiên cứu đã nói khá nhiều đến việc cần thay đổi hai trong số những nguyên tắc đó - không ràng buộc và đồng thuận - để tăng cường tính thể chế, đưa APEC từ một diễn đàn lỏng lẻo, thiếu thực chất, cam kết nhiều nhưng ít thực hiện thành một tổ chức chặt chẽ, có cơ chế ràng buộc để thực hiện các cam kết. Lựa chọn giữa B-APEC (APEC ràng buộc) và V-APEC (APEC tự nguyện) là một chủ đề đã và đang gây rất nhiều tranh cãi giữa hai trường phái học giả trong khu vực. B-APEC có thể là một sự lựa chọn cho tương lai của APEC; nhưng chắc chắn không phải là một tương lai gần. Hướng đi thực tế hơn cho những năm tới là củng cố V-APEC. Hướng đi này cũng không phải là đơn giản.
Trên thực tế, nhằm phát huy tối đa ưu điểm của nguyên tắc tự nguyện và giảm thiểu nhược điểm và tính cứng nhắc của nguyên tắc đồng thuận, thời gian qua, APEC đã áp dụng cơ chế “Người tìm đường” (path-finder) mà một số học giả còn gọi là "liên minh tự nguyện” (coalition of the willing) hay đơn giản là “21-x”. Cơ chế này làm tăng thêm tính linh hoạt và khả thi trong việc đưa ra các quyết định, cam kết cũng như việc thực hiện các cam kết trong APEC. Một phương thức khác mà APEC áp dụng ngày càng nhiều là xây dựng các bộ “thông lệ/thực tiễn tốt nhất” (best practices) trong các lĩnh vực khó đạt được ý kiến thống nhất, vừa để các thành viên đi tiên phong chia sẻ kinh nghiệm với thành viên khác, vừa tạo ra những mô hình kiểu mẫu để tăng tính thống nhất, đồng bộ và hội tụ trong quá trình thực thi của các thành viên. Một ví dụ điển hình là việc xây dựng bộ “best practices” của APEC về FTA/RTA. Xu thế gia tăng mạnh mẽ các FTA/RTA là vấn đề nổi cộm của không chỉ riêng APEC. Có quan điểm cho rằng sự ra đời của các FTA sẽ là động lực để thúc đẩy sự phát triển của APEC nói riêng cũng như hệ thống thương mại đa phương nói chung; ngược lại, nhiều quan điểm khác lại cho rằng FTA gia tăng sẽ làm giảm cam kết, lòng tin và sự nhiệt tình của các nền kinh tế đối với những khuôn khổ hợp tác đa phương như APEC, làm xói mòn các nguyên tắc của WTO. Đây là vấn đề đang gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, có thể khẳng định, dù theo hướng tích cực hay tiêu cực thì xu thế phát triển mạnh mẽ của các FTA/RTA cũng có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của APEC, đặc biệt trong bối cảnh nhiều thành viên APEC đang đi tiên phong trong đàm phán và ký kết các FTA/RTA với những đối tác trong cũng như ngoài khu vực, trong khi tự do hoá thương mại và đầu tư vẫn là ưu tiên hàng đầu của APEC. Khi điều kiện để hình thành một FTA chung của APEC còn chưa chín muồi thì việc xây dựng bộ “best practices” của APEC về FTA/RTA và khuyến khích các FTA/RTA có điều khoản mở để các thành viên khác có thể tham gia sau là những nỗ lực kịp thời nhằm phát huy mặt tích cực và giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực của làn sóng FTA/RTA mới đối với APEC, làm tăng tính cộng đồng giữa 21 nền kinh tế thành viên.
Thứ ba, việc cải cách APEC
Trong báo cáo thứ ba của Mạng lưới Đánh giá Quốc tế của APEC (APIAN) do 22 học giả uy tín thuộc các Trung tâm Nghiên cứu APEC (ASC) của 13 nền kinh tế thành viên trình lên SOM tháng 8/2002, các tác giả đã chỉ ra một loạt nguyên nhân đã và đang cản trở tiến trình APEC: “Những cơ cấu có thể là đủ cho một tổ chức mới ra đời trong năm 1989 đến nay đã trở nên bất cập khi APEC bước vào giai đoạn phát triển mới. Những quy phạm đã từng thiết thực cách đây một thập niên nay đã trở thành những hạn chế cản trở APEC thích nghi với thực tế mới. Cơ cấu quản trị của APEC đã trở nên quá phức tạp, quá yếu để có thể đáp ứng các nhu cầu của một tổ chức đang phát triển và cần phải được xem xét lại một cách toàn diện. Những quy định về việc đưa ra quyết định đòi hỏi sự nhất trí 100% của các thành viên thường xuyên làm trì trệ APEC và cần phải được điều chỉnh cho linh hoạt hơn. Tính phổ cập vốn là điểm mạnh của APEC trước đây giờ đã suy giảm đúng vào lúc khu vực tư nhân, giới học giả và các nhân tố khác trong xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền ngoại giao của thế giới. Sản phẩm của APEC ngày càng trở nên hiếm hoi. APEC cần phải làm rõ vai trò của mình trong mở cửa thị trường, hợp tác kinh tế và xây xựng chính sách. Cơ cấu tài chính của APEC yếu kém một cách đáng buồn, không tương xứng với các mục tiêu của APEC. Nếu không có cải cách, APEC sẽ đánh mất tính cạnh tranh so với các diễn đàn đa phương khác…”( )
APEC đã thấy được nhu cầu cấp bách phải cải tổ, nhưng xác định đó là một quá trình liên tục và kéo dài. Thực tế, cải cách APEC đã bắt đầu từ lâu nhưng chỉ thực sự được chú ý và bắt đầu tăng tốc từ Năm Chilê - 2004. Đặc biệt, cải cách APEC là một trong ưu tiên hàng đầu của Năm Hàn Quốc - 2005, tập trung vào 3 nội dung chính: nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua cơ chế phối hợp tốt hơn; ổn định tài chính và cải cách liên tục lần lượt được Nhật Bản, Ô-xtrây-lia và Xinh-ga-po chủ trì. Nhóm“Bạn của Chủ tịch SOM” (FOTC) đã được thành lập tại SOM I. Đến SOM III – APEC 2005, FOTC đã đưa ra dự thảo một số đề xuất nhằm giải quyết các vấn đề khác nhau thuộc ba nội dung nêu trên.
Tuy nhiên, những nỗ lực trên đây mới chỉ là bước đầu. Để khôi phục sức sống, sự năng động và uy tín của APEC, 21 nền kinh tế thành viên phải quyết tâm hơn nữa để có thể đưa ra các biện pháp nhằm tăng hiệu quả hoạt động của APEC, trong đó tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể sau:
Cải tổ bộ máy hành chính; Tăng cường quan hệ với các tác nhân liên đới; Đổi mới trong xác định mục tiêu; Tăng cường giám sát và rà soát chéo (monitoring and peer review); Nâng cao hiệu quả phối hợp; Cải cách tài chính.
Thứ tư, việc mở rộng APEC
Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao – Kinh tế APEC năm 1997 tại Vancouver đã quyết định ngừng xét kếp nạp thành viên mới trong vòng 10 năm. Như vậy, theo kế hoạch, đến năm 2007, 21 thành viên hiện nay sẽ thảo luận và quyết định vấn đề mở rộng APEC. Đến giờ còn quá sớm để khẳng định APEC có kết nạp thành viên mới hay không và nếu có thì bao giờ và tăng thêm bao nhiêu thành viên. Đó sẽ là một quyết định rất quan trọng đối với định hướng phát triển và tương lai của APEC.
Hiện nay, một số nước ở Châu Á và Châu Mỹ đã bắt đầu chiến dịch vận động gia nhập APEC. Đáng chú ý, trong số các ứng cử viên có cả những nước không tiếp giáp với Thái Bình Dương. Do sự không rõ ràng trong quy chế thành viên hiện hành, một trong những việc mà APEC-2007 sẽ phải làm là xác định rõ các tiêu chuẩn về vị trí địa lý đối với một thành viên của APEC và định nghĩa cụ thể “Châu Á – Thái Bình Dương” là gì. Đây không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật vì nó sẽ quyết định khả năng tham gia hay không của một số nước có vai trò kinh tế và chính trị rất quan trọng như Ấn Độ. Việc kết nạp Nga đã từng là một quyết định gây tranh cãi mà APEC cần rút kinh nghiệm. Từ lâu trong APEC đã tồn tại hai quan điểm trái ngược đối với vấn đề mở rộng APEC. Phía ủng hộ cho rằng APEC cần theo đuổi một chính sách khu vực mở thay vì khép kín và tăng phân biệt đối xử đối với những nước không phải là thành viên, rằng tính đa dạng chính là một ưu điểm của APEC; APEC thậm chí có thể bao gồm cả các thành viên ngoài khu vực vì đây là diễn đàn hợp tác kinh tế vì khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chứ không chỉ giữa các quốc gia và lãnh thổ trong khu vực. Phía phản đối mở rộng APEC cho rằng sự chênh lệch về trình độ phát triển và khác biệt về văn hoá, quan điểm chính trị và chính sách kinh tế, thương mại giữa 21 thành viên APEC hiện nay đã gây không ít rắc rối và trở ngại cho sự phát triển của tiến trình APEC. Việc kết nạp thêm thành viên mới không chỉ làm các bộ máy của APEC thêm cồng kềnh, phức tạp mà còn ảnh hưởng đến quá trình cải cách chỉ mới được bắt đầu của APEC, và trên hết sẽ giảm tính khả thi của mục tiêu xây dựng Cộng đồng Châu Á – Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, quyết định kết nạp thành viên mới sẽ không chỉ dựa trên cơ sở phân tích tác động của việc mở rộng APEC đối với tương lai của tiến trình này mà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố chính trị phức tạp, các cuộc vận động, mặc cả, trong hậu trường giữa các thành viên hiện nay với các ứng cử viên gia nhập APEC. Tất cả phải chờ đến Hội nghị Thượng đỉnh APEC năm 2007 để tìm câu trả lời cho vấn đề này.

Vũ Tuyết Loan
(Viện Nghiên cứu Đông Nam Á)

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Hoạt động của Đặc phái viên Lê Hồng Anh tại Trung Quốc
· Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp mặt đại biểu Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương
· Đồng chí Đồng Văn Thanh được bầu làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang
· Việc đổi tên cầu Nhật Tân phải làm đúng theo quy trình
· Đoàn kiểm tra của Bộ Chính trị làm việc tại Thanh Hóa về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI)
· Từ 15/9, triển khai tiêm vắc xin sởi-rubela cho trẻ từ 1-14 tuổi
· Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm, làm việc tại tỉnh Hà Giang
· Đối thoại cấp cao giữa Nga và Ukraine tại Minsk, Belarus
· Mỹ không hợp tác với Syria để chống Nhà nước Hồi giáo tự xưng
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : thuky.dcsvn@gmail.com
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet