Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 2 tháng 10 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta
sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới

20:35 | 17/10/2006
Gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế nước ta có những cơ hội mới để phát triển, đồng thời cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức.
Những cơ hội mà chúng ta có thể có được khi gia nhập WTO là:
(1) Gia nhập WTO chúng ta có điều kiện để mở rộng không gian phát triển, cơ hội thị trường gia tăng và thu hút thêm nhiều nguồn lực tài chính, tín dụng từ cộng đồng quốc tế, các tổ chức và chính phủ nước ngoài, kể cả nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) và các nguồn vốn vay khác với uy tín và vị thế được nâng cao.
(2) Gia nhập WTO là một cơ hội cho đất nước đẩy mạnh đổi mới nền kinh tế để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tiếp tục tạo lập thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt các nhà sản xuất kinh doanh vào môi trường cạnh tranh hơn, năng động hơn, tạo ra động lực quan trọng giải phóng sức sản xuất trong nước, thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả các nguồn tiềm năng sẵn có của chúng ta như tài nguyên, lao động và đặc biệt là thúc đẩy cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước, đổi mới hoạt động hệ thống ngân hàng, phát triển khu vực kinh tế tư nhân có hiệu quả và sức cạnh tranh cao.
(3) Khi là thành viên của WTO, Việt Nam sẽ có vị thế mới trên trường quốc tế, được đối xử bình đẳng như với tất cả các đối tác thương mại là thành viên của WTO, tránh được tình trạng phân biệt đối xử trong quan hệ với các nước, đặc biệt là các nước lớn...
Cùng với những cơ hội có thể tranh thủ được để đẩy mạnh phát triển kinh tế thì chúng ta cũng gặp phải những thách thức rất lớn. Đó là:
(1) Việc cắt giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường dịch vụ sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào ta nhiều hơn, phải chia sẻ thị phần trong nước cho các nhà đầu tư nước ngoài, có thể dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp bị thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí dẫn đến phá sản, một bộ phận người lao động mất việc làm, nảy sinh những vấn đề xã hội đòi hỏi phải giải quyết;
(2) Do doanh nghiệp nước ta còn thiếu hiểu biết về thị trường thế giới và luật pháp quốc tế, năng lực quản lý còn yếu, trình độ công nghệ hạn chế, nên không nắm bắt được cơ hội mở cửa thị trường nước ngoài để đẩy mạnh phát triển, không tăng được thị phần trong thương mại quốc tế;
(3) Nguy cơ thất nghiệp tăng và thuyên giảm tiền lương công nhân ở một số ngành nghề do sức ép cạnh tranh với hàng hoá cùng loại từ nước ngoài.
Tuy vậy, những cơ hội cũng như những thách thức này không phải là bất biến, nếu chúng ta biết phát huy những lợi thế tiềm năng của mình thì những thuận lợi sẽ tăng lên, những thách thức sẽ giảm bớt. Muốn vậy, chúng ta phải sớm nghiên cứu đề ra những giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trên ba cấp độ: cấp độ quốc gia, cấp độ nhóm ngành sản phẩm và cấp độ từng doanh nghiệp. Có thể khẳng định, nếu chúng ta phát huy hết cơ hội, khắc phục và vượt qua thách thức thì sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta khi gia nhập WTO sẽ được nâng lên.
Về các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh ở cấp độ quốc gia:
- Thực hiện triệt để việc cải cách hành chính và đổi mới phương thức quản lý nhà nước, giảm thiểu tối đa những cơ chế đòi hỏi có sự xét duyệt cấp phép trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước, thúc đẩy việc phát triển các tổ chức dịch vụ của hiệp hội ngành nghề thực hiện chức năng dịch vụ công thay cho các cơ quan nhà nước; đẩy mạnh việc xây dựng "chính phủ điện tử", nâng cao tính minh bạch, công khai công việc của các cơ quan chính quyền,… Tăng cường sự chỉ đạo, kiểm tra của Đảng và điều hành của các cơ quan nhà nước, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng và chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội của Đảng.
- Tiếp tục chuyển đổi mạnh cơ cấu nền kinh tế, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, tập trung nâng cao nhanh năng lực cạnh tranh chung của nền kinh tế. Đẩy nhanh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Trung ương 5 (khóa IX), bao gồm cả với lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Phát triển mạnh các ngành sản xuất nguyên liệu, phụ liệu và công nghiệp phụ trợ có lợi thế cạnh tranh để giảm bớt tỷ lệ nhập khẩu, tăng giá trị gia tăng của nền kinh tế.
- Nghiên cứu, xây dựng và ban hành kịp thời các cơ chế, chính sách phù hợp với các quy định của WTO, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp có được các thông tin về thị trường và xúc tiến thương mại ở nước ngoài; xây dựng các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh trong tiến trình hội nhập; hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào thông qua việc tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, cung cấp điện, nước, hỗ trợ sau đầu tư, phát triển khoa học công nghệ, giống, cây con, hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý, đào tạo nghề cho người lao động trong các doanh nghiệp,…
- Xây dựng và hoàn thiện thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nghiêm túc chỉ đạo xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành các luật và pháp lệnh đã ban hành để đảm bảo cho các quy định của luật pháp có hiệu lực thi hành trong thực tiễn đời sống xã hội. Đồng thời nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách đảm bảo an sinh xã hội trong điều kiện mới, nhằm góp phần khắc phục sự gia tăng bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội. Các luật, pháp lệnh ban hành mới cần đảm bảo tính cụ thể hoá cao và có hướng dẫn thi hành một cách đồng bộ, công khai, minh bạch của Chính phủ, các bộ, ngành liên quan; tăng cường và nâng cao vai trò giám sát thực hiện của Quốc hội, các đoàn thể và nhân dân.
- Tập trung quan tâm giải quyết các vấn đề kết cấu hạ tầng như cung cấp điện, hệ thống hạ tầng giao thông và thông tin cho nền kinh tế, khắc phục tình trạng yếu kém của kết cấu hạ tầng để không ảnh hưởng gây ách tắc đến quá trình phát triển và chiến lược hội nhập. Cần nhanh chóng xây dựng chiến lược khả thi với lộ trình tích cực để căn bản khắc phục được những ách tắc này cho quá trình phát triển.
- Tạo một bước chuyển biến cơ bản trong công tác đào tạo đội ngũ cán bộ phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao trình độ đào tạo trong nước để đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, tạo nguồn kinh phí và có chính sách cho đi đào tạo nước ngoài, bố trí công việc và cải cách chế độ tiền lương hợp lý,… Vấn đề trọng tâm dài hạn là xây dựng và thực thi một chiến lược phát triển nguồn nhân lực hiện đại, đáp ứng tốt các yêu cầu hội nhập và cạnh tranh quốc tế ngày càng diễn biến nhanh, gay gắt và dựa vào sự phát triển mạnh mẽ của tri thức và công nghệ.
- Xây dựng chính sách khuyến khích cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào hoạt động thương mại và xúc tiến thương mại, đồng thời mở rộng đầu tư về nước, giới thiệu bạn hàng mua bán cho các doanh nghiệp trong nước và tham gia vào việc phân phối, tiêu thụ hàng Việt Nam tại nước ngoài. Cần phải xem đây là một biện pháp có ý nghĩa chiến lược của nền kinh tế trong hội nhập quốc tế.
- Sớm thông qua luật về lập hội và ban hành chính sách, giải pháp chấn chỉnh hoạt động của các hiệp hội ngành hàng theo hướng: cơ cấu lại tổ chức, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và bố trí nhân sự nhằm thống nhất hoạt động và tăng cường vai trò của hiệp hội trong việc thúc đẩy xúc tiến thương mại, đầu tư, bảo đảm quyền lợi của các hội viên và lợi ích quốc gia.
Về những giải pháp
nâng cao sức cạnh tranh ở cấp độ ngành, nhóm sản phẩm:

Đối với ngành nông nghiệp và các nhóm sản phẩm nông nghiệp:
- Cần tổ chức rà soát, điều chỉnh các chính sách hỗ trợ nông nghiệp theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, tăng hỗ trợ thông qua nhóm chính sách “hộp xanh” (green box). Điều chỉnh các chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nông dân và doanh nghiệp phản ứng nhanh nhạy, có hiệu quả trước sự thay đổi của thị trường.
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nhất là trong bảo quản và chế biến nông, lâm sản, những ngành sản xuất sản phẩm sử dụng công nghệ cao và mới, sản phẩm sử dụng nhiều lao động,… Tổ chức thực hiện phương thức sản xuất theo hợp đồng giữa hộ nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích của nông dân, phát triển bền vững và ít rủi ro, làm cho nông dân yên tâm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
- Nhà nước cần tiếp tục ưu tiên đầu tư về thủy lợi, về khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp, như đầu tư tập trung, đồng bộ vào khâu giống cây, con, xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung cung cấp cho công nghiệp chế biến, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công nghệ chế biến, tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng, sức cạnh tranh cao cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Đồng thời đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ bảo quản lưu thông hàng hóa nông sản, nhất là xuất khẩu (như: cảng sông, cảng biển chuyên dụng, kho lạnh, xe bảo ôn, kho ngoại quan, chợ đầu mối bán buôn,…; nông sản tươi, sống phải được coi là mặt hàng ưu tiên trong mọi phương tiện vận tải).
Đối với ngành công nghiệp và các nhóm sản phẩm công nghiệp:
- Đẩy mạnh việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản phẩm công nghiệp, khai thác tối đa năng lực sản xuất và xuất khẩu của những sản phẩm đang có lợi thế cạnh tranh như: hàng dệt - may, giày - dép, đồng thời tập trung ưu tiên phát triển các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn, có giá trị gia tăng cao như cơ khí chế tạo (xe máy, xe đạp, máy động lực, máy nông nghiệp, đóng và sửa chữa tàu thuyền,…); thiết bị điện, điện tử - máy vi tính, phần mềm công nghệ thông tin, sản phẩm nhựa, sản phẩm gỗ,…
- Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng công nghiệp theo hướng gia tăng các sản phẩm chế biến, chế tạo, chú trọng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và tri thức cao. Bên cạnh đó, cần quan tâm khai thác các mặt hàng sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ, sử dụng nhiều lao động như chế biến nông - lâm - thủy sản, thủ công mỹ nghệ,…
Đối với lĩnh vực dịch vụ:
- Phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải. Dành thị phần lớn cho các doanh nghiệp trong nước vận chuyển hàng hóa Việt Nam theo đường biển, hàng không quốc tế.
- Hiện đại hóa dịch vụ bưu chính viễn thông; phổ cập sử dụng Internet, phát triển các nhà cung cấp mới, điều chỉnh giá cước để khuyến khích sử dụng rộng rãi.
- Phát triển du lịch cả chất lượng và hiệu quả, sớm đạt trình độ phát triển của khu vực, trước hết là các trọng điểm và nơi có nhiều lợi thế.
- Mở rộng các dịch vụ tài chính - ngân hàng như tín dụng, bảo hiểm, kiểm toán, chứng khoán, áp dụng theo các quy chuẩn quốc tế trong các hoạt động này.
- Phát triển mạnh các dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ tư vấn, kể cả dịch vụ đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, dịch vụ y tế, giáo dục, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội.
Về một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp:
- Nâng cao năng lực quản lý điều hành, trình độ tổ chức quản trị kinh doanh của các doanh nghiệp đáp ứng đòi hỏi của cơ chế thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển sản phẩm mới, khắc phục tình trạng chất lượng sản phẩm thấp, không ổn định và giá thành cao, khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh và cạnh tranh bằng giá.
- Đầu tư nhiều hơn cho việc xây dựng chiến lược sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường, tạo ra những sản phẩm đặc thù, có kiểu dáng, tính năng riêng biệt đáp ứng những nhu cầu mới của khách hàng.
- Đẩy mạnh hoạt động quảng bá và xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường, kể cả các quy định pháp luật của từng thị trường cụ thể. Hiện tại, hoạt động này của các doanh nghiệp còn ở trình độ thấp, chưa có hiệu quả. Có rất ít doanh nghiệp xây dựng được chương trình quảng bá và xúc tiến thương mại để giới thiệu sản phẩm cho khách hàng.
- Có chiến lược liên kết, liên doanh giữa các doanh nghiệp Việt Nam để tạo nên sức mạnh cộng đồng, khắc phục tình trạng tranh mua tranh bán trên thị trường và sự yếu kém về quy mô nhỏ bé của mình. Các doanh nghiệp cũng cần liên kết chặt chẽ với nhau thông qua những hợp đồng xác lập quan hệ thương mại ổn định, tạo nên những hệ thống phân phối ổn định và rộng khắp, tạo điều kiện để sản phẩm hàng hóa Việt Nam lưu thông thông suốt. Tham gia các hiệp hội ngành hàng để bảo vệ quyền lợi của mình.
Một vấn đề quan trọng khác là phải đổi mới mạnh mẽ sự quản lý điều hành của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thực hiện nhất quán nguyên tắc: Nhà nước quản lý bằng pháp luật và bằng các chính sách điều tiết thị trường công khai, minh bạch; doanh nghiệp phải tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và tôn trọng pháp luật. Thực hiện triệt để cải cách hành chính nhà nước theo nguyên tắc thu gọn đầu mối quản lý, đồng thời nâng cao năng lực quản lý điều hành của cán bộ và cả bộ máy nhà nước. Nhà nước cần tổ chức cung cấp cho doanh nghiệp các thông tin về cam kết gia nhập WTO, thông tin về thị trường quốc tế và hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại ở nước ngoài.
Các cơ quan Đảng, đoàn thể quần chúng, các tổ chức hiệp hội ngành hàng cũng cần nâng cao nhận thức, đổi mới hoạt động và công tác tổ chức, vận động mọi cán bộ đảng viên và mọi thành viên của các tổ chức quần chúng thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, tạo thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh. Các cấp, các ngành cần có kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X về phát triển kinh tế - xã hội và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ và có phân công trách nhiệm rõ ràng khi xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển.

BCĐ (Theo CAO SỸ KIÊM
Tạp chí Kinh tế, Ban Kinh tế Trung ương, 9-2006)

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
IFC với việc hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế tư nhân (19/10/2006)
LHQ công bố Báo cáo Đầu tư thế giới 2006:Gia nhập WTO, Việt Nam trở nên rất hấp dẫn (18/10/2006)
33 năm quan hệ Việt Nam-Nhật Bản (1973-2006) (18/10/2006)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản phát triển không ngừng (17/10/2006)
Những điểm cơ bản về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (17/10/2006)
Hài hoà tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế (17/10/2006)
Thiếu hụt nhân lực trình độ cao (17/10/2006)
Siết chặt giá xuất khẩu (17/10/2006)
Gia nhập WTO: Cánh cửa đã rộng mở với Việt Nam (17/10/2006)
Ðổi mới phương thức đầu tư cảng biển (17/10/2006)
Vấn đề là phải liên kết để đáp ứng thách thức khi gia nhập WTO (17/10/2006)
Ý nghĩa lớn từ một chuyến thăm (16/10/2006)
WTO - nhìn từ Hà Nội (16/10/2006)
 Trang 1 / 31 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp đoàn đại biểu Hội hữu nghị Hàn - Việt
Gặp mặt thân mật đại diện hai dòng họ Lý (Việt Nam) tại Hàn Quốc
· Đồng chí Trần Văn Rón được bầu là Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long
· Tai nạn giao thông nghiêm trọng tại Đắk Lắk, 12 người thương vong
· Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm và làm việc với trường Đại học Phạm Văn Đồng
· Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia để phát triển bền vững
· Định hướng phát triển và cơ chế đặc thù cho huyện đảo Lý Sơn
· Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm và tiếp các tập đoàn Samsung, Keangnam
· EU sẵn sàng tiếp tục tham vấn ba bên về thực hiện Hiệp định liên kết với Ukraine
· Chính sách mới có hiệu lực thi hành từ tháng 10/2014
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet