Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 1 tháng 9 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  bandoc.dcsvn@gmail.com
thuky.dcsvn@gmail.com
Ý nghĩa lịch sử và thời đại của bản Tuyên Ngôn Độc Lập
09:39 | 30/08/2005
(ĐCSVN)-Hưởng ứng cuộc thi “tìm hiểu 60 năm nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, đã có nhiều bài dự thi tâm huyết của các thí sinh từ khắp mọi miền đất nước gửi về. Website Đảng Cộng Sản Việt Nam xin trích đăng một số bài tâm huyết của các tác giả dự thi nói về ý nghĩa to lớn của Bản Tuyên ngôn độc lập do Bác Hồ khởi thảo tại Quảng trường Ba Đình 2/9/1945.
Bằng sự tìm tòi công phu bài dự thi của tập thể hơn 100 đoàn viên, thanh niên trường đại học Ngoại thương Hà Nội về sự ra đời của Bản Tuyên ngôn độc lập.
Bản Tuyên ngôn độc lập ra đời trong hoàn cảnh lịch sử hết sức đặc biệt, một thời điểm trọng đại và phức tạp của lịch sử. Trọng đại ở chỗ nó đã kết thúc 80 năm nhân dân ta phải chịu đau khổ, lầm than dưới ách thống trị của thực dân Pháp, 5 năm bị phát xít Nhật đô hộ và hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến. Phức tạp ở chỗ các lực lượng thù địch vẫn lăm le tái chiếm nước cộng hoà non trẻ, ở miền Nam, thực dân Pháp nấp sau lưng quân đội Anh (thay mặt đồng minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật) đang tiến vào Đông Dương, ở miền Bắc là quân đội Tưởng Giới Thạch, tay sai của đế quốc Mỹ, đã chực sẵn ở biên giới; mâu thuẫn giữa Anh - Pháp - Mỹ và Liên Xô có thể làm cho Anh - Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương. Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược lần thứ hai này, thực dân Pháp đã tung ra những lý lẽ trong dư luận Thế giới rằng: Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp, Pháp có công khai hoá đất nước này, nay trở lại là lẽ đương nhiên sau khi phát xít Nhật bị quân đồng minh đánh bại.
Bản Tuyên ngôn độc lập là một văn bản chính luận hiện đại với hệ thống lý lẽ đanh thép và hệ thống dẫn chứng hùng hồn không thể chối cãi, có sức thuyết phục cao. Nó là kết quả của tầm nhìn sâu rộng, của bao suy nghĩ trăn trở, và hơn cả là của một tấm lòng luôn luôn hướng về đất nước, về nhân dân của Hồ Chí Minh.
Có thể nói, không phải đến khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời được thành lập Bác Hồ mới nghĩ đến việc soạn thảo và cho ra đời một bản tuyên ngôn cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà đây là kết quả của cả một qúa trình trăn trở, suy ngẫm trong hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Người qua nhiều nước trên thế giới. Tuyên ngôn độc lập đã thể hiện tầm nhìn sâu rộng, khả năng dự liệu thiên tài của Hồ Chủ tịch.
Bác soạn thảo Tuyên ngôn độc lập trong một thời gian ngắn. Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Người từ Tân Trào về Thủ đô và sống tại căn nhà số 48 Hàng Ngang. Tại đây, vào sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp với thường vụ Trung ương Đảng. Người nhất trí với Trung ương Đảng về chủ trương đối nội, đối ngoại, về việc sớm công bố danh sách thành viên chính phủ lâm thời, chuẩn bị ra Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để chính phủ ra mắt nhân dân, ngày ra mắt của chính phủ lâm thời cũng chính là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hoà. Ngày 27 – 8- 1945, trong cuộc họp của Uỷ ban dân tộc giải phóng về việc thành lập chính phủ thống nhất quốc gia, Người đã được bầu làm Chủ tịch chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Ngày 30 tháng 8, Người mời một số đồng chí để trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên Ngôn độc lập. Sau khi đọc bản thảo cho mọi người nghe và hỏi ý kiến (đây là một thói quen của Bác, hỏi ý kiến để người khác phê bình công việc mình làm), Người đã sung sướng nói rằng: Trong đời Người đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy.
Ngày 31 tháng 8 Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn độc lập, hỏi cụ thể về tình hình tổ chức cuộc mít tinh lớn ngày 2 - 9 - 1945 tại quảng trường Ba Đình ( Hà Nội) và nhắc nhở Ban tổ chức một số điểm cần chú ý.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, lúc 14h, tại vườn hoa Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào thủ đô, trên diễn đàn cao và trang nghiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trịnh trọng tuyên bố với thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Sau khi Chính phủ lâm thời làm lễ tuyên thệ và được nhân dân thề một lòng ủng hộ Chính phủ do Hồ Chí Minh lãnh đạo, Người nói: “Độc lập tự do là của quý báu, quý giá vô ngần, ta đã khổ sở trong bao nhiêu năm mới giành được, cần cố gắng giữ gìn, bảo vệ”.
Bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể được coi là một “áng thiên cổ hùng văn”. Thực ra, đây không phải là bản tuyên ngôn đầu tiên và duy nhất của nước ta. Trước đó, chúng ta đã từng được biết đến bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt:
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)
Và tiếp đó là bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi.
"… Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc - Nam đã khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương…"
Nếu như bài Nam Quốc Sơn Hà mới chỉ khẳng định sông núi, lãnh thổ này là của ta, và khẳng định rằng nhân dân ta quyết tâm đánh thắng bất kỳ kẻ nào nuôi ý định xâm lược thì trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã thay lời Lê Lợi tuyên bố về sự toàn thắng của công cuộc kháng chiến trường kỳ và sự mở đầu của kỷ nguyên phục hưng đất nước, song cả hai "bản Tuyên ngôn" trên đều mới chỉ dừng lại ở đó.
Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố quyền tự do của dân tộc, khẳng định thắng lợi của cách mạng nước ta. Bản tuyên ngôn đó không còn chỉ dành riêng cho dân tộc Việt Nam mà đó còn là sự sự cổ vũ, lời khẳng định thiêng liêng của tất cả các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc nhược tiểu. Như vậy có thể khẳng định, Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính thời đại. Tính thời đại ấy được thể hiện rất rõ ràng và súc tích trong tư tưởng chủ đạo xuyên suốt của bản Tuyên ngôn, đó là “không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Trong phần đầu của Bản Tuyên ngôn độc lập, Bác nêu nguyên tắc tự do bình đẳng và dẫn chứng ra hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch sử nhân loại của hai nước lớn là bản “Tuyên ngôn độc lập 1776” của Mỹ và bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp. Sử dụng hai bản tuyên ngôn này, Bác đã khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc ta bằng chính quan điểm của người Mỹ và người Pháp về vấn đề này. Đây là sự kế thừa hết sức khéo léo, chặt chẽ; và từ bản tuyên ngôn của Mỹ và Pháp, Bác đã nêu những quy luật bất biến, được thừa nhận chung về quyền con người, và khái quát lên thành quyền độc lập tự do của cả một dân tộc.
Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn nổi tiếng này có dụng ý của Bác. Thứ nhất, Bác đã mượn hai bản tuyên ngôn kia để xây dựng nguyên tắc lý luận, đặt cơ sở pháp lý khách quan cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam. Thứ hai, đây là cách đặt ba cuộc cách mạng, ba nền độc lập, ba bản tuyên ngôn ngang hàng nhau, thể hiện một niềm tự hào, tự tôn dân tộc… Thứ ba, Bác đã thể hiện một nguyên tắc chính trị khéo léo bằng phương pháp “gậy ông đập lưng ông”, dùng ngay lý lẽ của đối thủ để đẩy chúng vào thế “tự vạch mặt”.
Một tài tình nữa của Bác nằm trong ba chữ “suy rộng ra”, từ quyền lợi con người nói chung, Bác đã phát triển thành quyền lợi dân tộc cụ thể. Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với dân tộc Việt Nam, nhất là khi độc lập dân tộc đang bị các lực lượng thù địch bao vây tứ phía. Đây cũng là mối bận tâm lớn nhất trong cuộc đời của Bác: “Ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Nâng quyền lợi con người thành quyền lợi dân tộc là một sáng tạo đáng quý của Bác, thể hiện tâm huyết lớn của Bác dành cho dân tộc mình. Ý kiến “suy rộng ra” ấy còn là một đóng góp rất lớn và đầy ý nghĩa của Bác đối với phong trào giải phóng dân tộc trên Thế giới. Một nhà văn hoá nước ngoài đã viết “Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình”
Về lý lẽ, dẫn chứng, ngữ điệu để tiến công đối thủ, Bác có cách làm riêng: Trước hết, lý lẽ của Bác bao giờ cũng ngắn gọn và sắc sảo: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do bình đẳng bác ái đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Chỉ với hai câu văn Bác đã lột được mặt nạ địch thủ, tương phản giữa khẩu hiệu “tự do bình đẳng bác ái” mà Pháp rêu rao với thực tế chà đạp lên tự do độc lập của nhân dân Việt Nam. Bản chất của thực dân Pháp lộ hẳn ra: lời nói đối nghịch với việc làm, khẩu hiệu đẹp là cái mặt nạ rơi xuống đất để trơ ra bộ mặt phi nhân bất nghĩa.
Dẫn chứng của Bác cũng rất phong phú, cụ thể, chính xác, được rút ra từ những sự thật không thể chối cãi được ở những phương diện rất cơ bản: chính trị, kinh tế, sự bán rẻ nước ta hai lần cho Nhật, tội “giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”. Chỉ một câu “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” mà chứa đựng được những biến động lớn nhất của Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nó đã đặt dấu chấm hết cho một thể chế, mở ra một thời đại mới.
Còn đối với ngữ điệu hùng biện thì có 14 câu văn mà câu nào cũng mở đầu bằng chữ “chúng” và khép lại bằng chữ “ta”:
“Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để chia rẽ, ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”
Cách viết như vậy đã làm nổi bật những tội ác không thể dung tha của thực dân Pháp, và đối nghịch lại là những ách lầm than mà nhân dân ta phải chịu. Đó cũng chính là cách tố cáo tốt nhất, hiệu quả nhất kẻ thù xâm lược của nhân dân ta.
Sự thật vốn là nền tảng của chân lý. Nắm vững điều đó Bác luôn láy đi láy lại hai chữ “sự thật”:
“Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải là thuộc địa của Pháp nữa…
Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”
Bác đã tạo ra một biên bản lịch sử từ sự thật hiển nhiên không thể chối cãi của đời sống. Đúng như nhận xét của Trần Dân Tiên “Bản Tuyên ngôn độc lập là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam”.
Đến cuối bản Tuyên ngôn, Bác đưa ra những những tuyên bố về lập trường của dân tộc Việt Nam. Có bốn nội dung tuyên bố quan trọng: phủ nhận triệt để vai trò của Thực dân Pháp ở Việt Nam, tuyên bố lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà, yêu cầu Quốc tế công nhận độc lập tự do của dân tộc Việt Nam: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”
Trong lời kết luận, sự khẳng định nền độc lập còn được tăng lên một bậc nữa: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Và vì thế, bản Tuyên ngôn đã khẳng định ý chí của người Việt Nam quyết bảo vệ nền độc lập dân tộc ấy bằng mọi giá “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”
Bản Tuyên ngôn độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là kết tinh giữa yếu tố truyền thống của dân tộc ta với yếu tố thời đại. Nó không phải chỉ là một tác phẩm tức thời Người viết ra để phục vụ cho thời điểm cách mạng tháng Tám thành công mà nó còn là tư tưởng, là gan óc, là tâm nguyện và khát khao, là kết quả của cả một quá trình dài đi tìm đường cứu nước cũng như quá trình kiểm nghiệm trong thực tế đấu tranh của Người. “Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản yêu cầu gửi cho hội nghị Véc-xây mà Bác Hồ đã viết năm 1919 và chương trình Việt Minh Bác viết năm 1941. Hơn nữa bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản tuyên ngôn khác của tiền bối như các cụ Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và của nhiều người khác, của bao nhiêu sách báo truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn 80 năm trước.
Bản Tuyên ngôn độc lập là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam”.
Sự ra đời của bản Tuyên ngôn độc lập thực sự là một mốc son trong lịch sử của dân tộc Việt Nam ta. Tuyên ngôn độc lập đã trở thành một cuộc đối thoại lớn có ý nghĩa lịch sử trọng đại: tuyên bố với nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới về việc chấm dứt 80 năm đô hộ của thực dân Pháp và hàng nghìn năm phong kiến ở Việt Nam, mở ra một giai đoạn mới của một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, tự chủ, đồng thời đấu tranh bác bỏ những lý lẽ láo xược cùng âm mưu tái chiếm Việt Nam của các lực lượng thù địch đặc biệt là Pháp và Mỹ, tranh thủ sự đồng tình rộng rãi của dư luận quốc tế.

Phạm Hằng

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
60 năm Cách mạng tháng Tám cùng bè bạn tản mạn nghĩ suy (06/09/2005)
Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh: Cách mạng Tháng Tám và 60 năm đấu tranh, xây dựng (05/09/2005)
Người RaGlai ơn Đảng (30/08/2005)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Chất lượng cuộc sống của người Việt Nam ngày càng nâng cao (28/08/2005)
Công nghiệp Việt Nam 60 năm xây dựng và trưởng thành (26/08/2005)
Gặp lại “Người con gái Pa cô anh hùng ” (26/08/2005)
Bác Hồ ở Inđônêxia năm 1959 (26/08/2005)
Khí phách Hồ Chí Minh (26/08/2005)
“Cách mạng tháng Tám - Sự kiện vĩ đại của thế kỷ XXI" - Những góc nhìn về Lịch sử (26/08/2005)
60 năm nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng và phát triển (26/08/2005)
Dấu ấn sâu sắc của Cách mạng tháng Tám (25/08/2005)
Cách mạng tháng Tám: Những bài học còn nguyên tính thời sự (25/08/2005)
Chi bộ làng Bứa lãnh đạo xoá đói giảm nghèo (23/08/2005)
 Trang 1 / 2 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Singapore khai trương mạng Internet nhanh nhất Đông Nam Á
· Thế giới tuần qua (25 – 31/8): Thắt chặt tình đoàn kết trong cộng đồng ASEAN
· Dự án đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai đã cán đích
· Thủ tướng Chính phủ dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
· Vụ chuyển nhượng giữa Metro và BJC: “Gần 900 triệu đô-la cũng là cái giá phải chăng”
· Miễn vé tham quan ngày 2/9 cho du khách tại khu di sản Huế
· Hình ảnh Việt Nam được quảng bá rộng rãi tại Pháp
· Khánh thành Đại Tượng Phật bằng đồng nguyên khối lớn nhất Đông Nam Á
· Thời tiết ngày 1/9: Các vùng trên cả nước có mưa rào rải rác
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : thuky.dcsvn@gmail.com
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet