Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 21 tháng 11 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Tình hình kinh tế thời Trần (tiếp)
10:41 | 15/05/2006

1.  Các hình thái sở hữu ruộng đất

b . Ruộng đất tư nhân

Thái ấp - đất phong của quý tộc Trần

Thời Lý ''các quan trong, quan ngoài đều không được cấp bổng'', đến thời Trần mới định lệ cấp bổng cho các quan văn võ trong ngoài. Đây là nét khác biệt rất cơ bản về tổ chức nhà nước của hai triều đại. Có thể thấy thêm chính sách ban cấp ruộng đất và bổng lộc của nhà Trần dưới một hình thức tiêu biểu nhất là thái ấp.

Ban cấp thái ấp là chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho chính quyền Trần. Từ ''thái ấp" trong cử cũ không nhiều. Các nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Phan Huy Chú không dùng từ này. Ngô Sĩ Lên ghi "chế độ nhà Trần các vương hầu đều ở phủ đệ ở hương của mình, khi chầu hầu thì mới đến kinh sư, xong lại về. Như Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chân ở Chí Linh đều thế cả''. Phan Huy Chú viết: “xét những vương hầu triều Trần được mở phủ đệ đều có trại riêng ở hương. Khi có lễ vào chầu thì mới tới kinh, xong việc lại về phủ đệ như Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Quốc Chân ở Chí Linh, Chiêu Văn ở Thanh Hóa, Quốc Khang ở Diễn Châu. Người nào được triệu làm tể tướng mới ở kinh sư, khi ấy đất ở không định hạn''.

Mặc đầu vậy, một văn bản chính thức đương thời được chép khá nguyên vẹn trong các sử cũ là bài Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cũng hai lần nhắc đến từ thái ấp: "không những thái ấp của ta bị tước'' (bất duy dư chi thái ấp bị tước), ''chẳng những là thái ấp của ta mãi mãi lưu truyền ( bất duy dư chi thái ấp vĩnh vi thanh chiên) thì rõ ràng thái ấp là sự thực khách quan, và là của quý tộc họ Trần.

Sau đây là một số thái ấp tiêu biểu trong thế kỉ XIII có chép trong sử  cũ là các tài liệu địa phương ghi nhận.

-        Trần Thủ Độ ở Quắc Hương (Bình Lục, Hà Nam).

-        Trần Quốc Khang mấy thôn ở phủ Diễn Châu (Nghệ An).

+ Quắc Hương còn gọi là Quắc Thị, thái ấp của thái sư tướng quốc Trần Thủ Độ nay là làng Thành Thị, tên nôm là làng Vọc, thuộc huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam. Vào thời Lê - Nguyễn, Thành Thị thuộc tổng Ngọc Lũ phủ Lý Nhân. Thành Thị cách thành phố Nam Ninh (Tức Mặc xưa) 7km về phía đông nam; cách thị xã phủ Lý 15 km về phía bắc. Khi nhà Trần thay thế nhà Lý, Trần Thừa vẫn ở Tĩnh Cương (Hưng Hà, Thái Bình) thì Trần Thủ Độ về Quắc Hương lập thái ấp, vừa để khống chế và tiêu diệt thế lực quan lại nhà Lý trong vùng, vừa bảo vệ mặt bắc hành cung Tức Mặc (sau là phủ Thiên Trường). Thái ấp Quắc Hương rộng bao nhiêu, ruộng đất và cư dân phân bố như thế nào không rõ, nhưng những địa danh và di tích của Quắc Hương thời Trần còn lại rải trên một vùng đất khoảng 3 km2, hơi hẹp về đông - tây mà dài về nam - bắc.

Phía đông Quắc Hương là sông Ninh Giang chảy ra sông Hồng, phía tây nay là làng Vũ Bị. Phần bắc Quắc Hương có sông Cụt, một sông nhân tạo đào từ giữa làng chếch theo hướng bắc ra sông Ninh Giang, dài khoảng 150m. Sông Cụt nay đã bị lấp gần hết, vết tích còn lại là một số ao hồ rải rác và một đoạn sông phía nam xóm Đông Thành đổ vào Ninh Giang. Qua đoạn sông này có một cầu nhỏ mang tên là Cầu Nhà Vua. Sở dĩ gọi là Cầu Nhà Vua bởi lẽ, theo dân gian kể, buổi khởi thủy cầu này do vua Trần Thủ Độ cho xây dựng để qua lại từ bên dinh thự sang xóm Đông Thành Sông Cụt hợp vào sông Ninh Giang là đường giao thông thủy chuyên chở nguyên vật liệu để xây dựng phủ đệ, thóc gạo về thái ấp và ngược lại.

 Gần Cầu Nhà Vua, về phía nam là khu ruộng có tên là Nền nhà Vua hay dinh vua. Nền nhà vua nơi ở của chủ thái ấp Trần Thủ Độ và con cháu. Nền nhà Vua nay chỉ còn là địa danh, cả nền nhà đã bị san bằng làm khu ruộng thấp cấy lúa mang địa danh mới là Ruộng Vua.

Phía nam Nền nhà Vua, khoảng giữa làng có một di tích kiến trúc là Đình Cả. Theo cách nói của dân gian thì đây là nơi làm việc của quan “Thượng phụ'' hay của "Trần hoàng thúc''. Đình được xây dựng trên một khoảng đất cao hơn mặt đất xung quanh đến 5m. Sau khi Trần Thủ Độ mất thì đến thời Lê nơi này thành nơi thờ ông.

Sát cạnh Đình Cả là nhà Giảng Võ. Nhà đã bị triệt hạ từ rất lâu, nay chỉ còn là ruộng lúa. Phía nam, cách Đình Cả 100m là khu Cột Cờ. Khu Cột Cờ là khoảng đất rộng 3 sào Bắc bộ, cao hơn mặt ruộng xung quanh 0,50m chính giữa nổi cao một gò đất rộng gần l sào, có tên gọi là Chân Cột Cờ. Tại khu Cột Cờ này, khảo cổ học đã tìm thấy một số con giống bằng đá như chó đá, nghê đá, rùa đá. Cách cột cờ hơn 50m về phía tây nam là một đám đất vuông 40m2 có tên là cờ.

Gần khu Cột Cờ về phía đông là nền nhà Cương, có người gọi là Khu cột ngựa. Nhà Cương bị phá từ rất lâu, nhưng nền nhà còn lại với diện tích 2 sào Bắc bộ, cao hơn mặt ruộng 0,40m. Đây là dãy nhà nuôi ngựa, kho binh khí của hoàng thúc Trần Thủ Độ.

Khoảng giữa khu Cột Cờ và nền nhà Cương là Gò Con Quy. Gò cao 1m, rộng gần 1 mẫu Bắc bộ. Trên gò hiện còn một rùa đá cụt đầu. Tục truyền đây là rùa thần của Trần hoàng thúc. Rùa đá bị giặc phương Bắc khoét mắt chặt đầu. Phía bắc khu Cột Cờ là khu rẻ quạt. Gò rẻ quạt có 5 gò nhỏ tỏa ra như cánh quạt. Các gò này hiện còn dấu tích. Theo nhân dân địa phương thì đây là khu luyện tập binh lính và võ thuật.

Khu Vườn Hoa ở phía nam làng. Cũng có người gọi là Vườn dược bởi vì vườn này có nhiều cây thuốc.

Phía tây nam khu Vườn Hoa là khu Gác Chuông, rộng khoảng 3 sào, cao hơn mặt đất nằm sát chân thành Ngoại. Nhiều người cho rằng đây là trạm canh gác ngày xưa.

Đình Cả, khu Cột Cờ, nền nhà Cương và vườn Hoa ... đều nằm trong một diện tích khoảng 20 mẫu.

Về phía tây, làng có mộ táng nằm sát chân thành Nội. Mộ táng xếp hình cũi lợn, giữa là tro than.

Quắc Hương còn có di tích 2 thành đất mang địa danh là thành Nội

Thành Ngoại. Từ phía bắc khu Nền nhà vua, thành Nội chạy dọc theo phía tây làng mà vết tích là con đường nhỏ dài khoảng 800m. Chân thành Nội phía bắc còn lại là một gò đất cao hơn mặt ruộng 1m có chiều dài 20m, mặt trên rộng 5 đến 6m (nay nằm trong khu nghĩa địa làng). Chân thành Nội phía nam nằm bên tây Đình Cả là một gò đất dài 15m, cao hơn mặt ruộng 1m, cách sông Ninh Giang về phía đông hơn 350m.

Thành Ngoại cách thành Nội 100m về phía tây. Theo các cụ già địa phương thì thành Ngoại là đường ngăn giới 2 làng Vũ Bị và Thành Thị ở phía bắc đến cánh đồng trắng phía tây làng. Hiện nay dấu vết còn lại của thành Ngoại là một gò đất cao hơn mặt ruộng 1,5m, rộng 20m, chân gò có nhiều sỏi và đá cuội mà nhân dân địa phương vẫn gọi là Chân thành Ngoại ở khoảng giữa phía tây làng.

 Ngoài ra trên đồng làng Thành Thị còn có địa danh Vườn Quan hay đồng  Thượng Phụ. Các nhà khảo cổ học còn tìm thấy mô hình nhà 4 mái bằng đất nung. Như vậy Quắc Hương có nhiều nét như một địa điểm quân sự, mà chủ thái ấp có uy quyền như một ông vua nhỏ. Rất tiếc các tư liệu về hoạt động kinh tế ở đây lại quá ít.

Các thái ấp khác cũng có kiểu dáng gần giống như trên. Thái ấp của Tĩnh Quốc đại vương Trần  Quốc Khang, con vua Thái Tông Trần Cảnh ở châu Diễn. Sử cũ ghi cụ thể "Quốc Khang từng trông coi châu Diễn, chọn con gái trong chầu người nào có sắc đẹp lấy làm nàng hầu vợ lẽ, cho nên các con thứ như Huệ Nghĩa, Quốc Trinh đều do người châu Diễn sinh ra.

Về sau, chức tri châu Diễn đều là con cháu của Quốc Khang làm cả; đến khi dòng giống không có con trai mới dùng người bán châu làm tri châu". Theo tư liệu địa phương thì khu thái ấp của Trần Quốc Khang là làng Công Trung (Văn Thành, Yên Thành, Nghệ An).

Thái ấp của thượng tướng Trần Quang Khải nay thuộc vùng đất của hai làng Cao Đài và Lương Mĩ ở sát nhau (đều thuộc xã Mĩ Thành, Bình Lục Hà Nam). Trên vùng đất này còn có vết tích của thành hào và tấm bia Phụng Dương Công chúa thần đạo bi minh tịnh tự (do Lê Củng Viên soạn).

Thái ấp của thượng tướng Trần Phó Duyệt ở Linh Giang (Chí Linh, Hải Dương) là một làng nhỏ. Phó Duyệt chết, thái ấp này được truyền lại cho con là Khánh Dư. Sử cũ ghi ''Châu Chí Linh (sự thực chỉ có xã Linh Giang) vốn là của riêng của Thượng tướng Trần Phó Duyệt, cho nên Trần Khánh Dư mới giữ lại được''. Nguồn đất ban đầu của thái ấp có thể thuộc quyền sở hầu Nhà nước, nhưng khi ban cấp thành thái ấp thì thái ấp thuộc sở hữu tư nhân các quý tộc Thái ấp là vùng''đất riêng của các quý tộc Trần. Theo những tài liệu còn lại như Quắc Hương, Tinh Cương (Hưng Hà Thái Bình), Linh Giang, Công Trung thì quy mô thái ấp khoảng bằng một hai làng mà thôi.

Thái ấp thời Trần cũng là nơi ở thường xuyên của quý tộc và "mãi mãi được lưu truyền!'' (lời Trần Hưng Đạo). Tuy nhiên, thái ấp rất phân tán. Sự phân bố thái ấp thời Trần hoàn toàn không giống như bộ phận lãnh địa các nước phương Tây trung cổ ''không có đất nào là không có chúa đất''. ở Đại Việt thái ấp chỉ có phạm vi hẹp, tỉ lệ nhỏ so với ruộng đất và dân cư trong cả nước. Trên bản đồ đất nước bấy giờ, thái ấp chỉ là những điểm nhỏ bé và thưa thớt ở vùng đồng bằng, không đủ khả năng tạo ra một mối liên kết kinh tế - xã hội riêng biệt đối lập với triều đình, mà ngược lại sự tồn tại của nó phải gắn chặt với triều đình, với dòng họ Trần.

Điền trang

Năm 1266, do nhu cầu khẩn trương mở rộng thêm diện tích canh tác và thực hiện chủ trương xây dựng củng cố thêm thế lực của quý tộc Trần, cho các vương hầu công chúa, phò mã cung tần chiêu tập những người xiêu tán không có sân nghiệp làm nô tì để khai khẩn ruộng hoang lập điền trang.

Vương hầu có điền trang thực bắt đầu từ đấy. Sự thực thì điền trang có từ trước, song còn lẻ tẻ, rời rạc, chưa thành một lực lượng kinh tế to lớn của cả tầng lớp quý tộc. Có thể nói rằng trang An Lạc là điền trang được hình thành vào loại sớm nhất. Một tài liệu địa phương ghi ''xã An Lạc trước là do đất bồi. Vương phụ của Quắc Tuấn là An Sinh vương mộ dân khai khẩn lập ấp. Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn có công lớn bình Nguyên nên cho lập sinh từ ở đấy". An Lạc là nơi chôn cất tạo xương hỏa táng của Trần Quốc Tuấn.

Điền trang An Lạc nay là làng Bảo Lộc (Bình Lục, Hà Nam) cách Tức Mặc hơn 3 km về phía bắc. Hiện nay ở đền Bảo Lộc nơi thờ Trần Liễu và Trần Quốc Tuấn còn một quả chuông khắc dòng chữ “An Lạc từ  chung” (chuông  đền An Lạc). Theo nhân dân địa phương thì trang An Lạc xưa có gần 500 mẫu, sau bị lở xuống sông Châu nay chỉ còn mấy sào. Thần tích các đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu ở các làng Thọ Lão, Tiến Thịnh (Mê Linh, Vĩnh Phúc) cũng cho biết ông đã chiêu dân lập trang trại trên vùng đất này.

Nhiều tư liệu địa phương cũng cho biết bản thân vua Trần cũng lập vùng đất tương tự như điền trang. Vào khoảng sau cuộc kháng chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất, Trần thái Tông về Lộ Trường Yên lập hành cung Vũ Lâm. Đây là vùng đất rộng lớn (ngày nay bao gồm các xã Ninh Hải, Ninh Thắng, Ninh Xuân, Ninh Vân huyện Hoa Lư, Ninh Bình). Những di tích và địa danh còn lại như Hành Cung (nơi vua ở) làng Tuân Cáo (kiểm soát người qua lại) bến Hạ Trạo (hạ mái chèo) vườn kho đã nói lên hoạt động của vùng đất này vào thời đó. Trong khu vực hành cung có thôn Văn Lâm là do Thái Tông lập ra ruộng đất khai hoang được 155 mẫu.

Di tích còn lại của xóm nhỏ Viên Thôn, xã Cổ Nhuế (ngoại thành Hà Nội) cũng giúp ta có thể hình dung một trang viên đời Trần. Viên Thôn ở đây có ngôi miếu nhỏ mang tên là Viên Thôn linh từ và Ghi nhớ trên cho biết bà công chúa Trần Khắc Hân đã theo lệnh khẩn hoang năm 1266 lập điền trang ở vùng Cổ Nhuế. Điền trang này có khoảng  250 mẫu ruộng có chùa Thánh Quang.

Vùng Tô Xuyên (Quỳnh Phụ, Thái Bình) cũng là điền trang thời Trần.

 Sau năm 1266, phò mã Hưng Mĩ hầu họ Vũ chiêu tập dân nghèo về vùng lưu Vực Sông Hoá khai khẩn ruộng đất. Đây là vùng đất phù sa, trồng lúa ta tiến hành chống quân Nguyên (1285, 1288) thì điền trang này đã phát triển "là đồn trú quân, xây dựng kho lương". Đến cuối thời Trần thì "con cháu Hưng Mĩ hầu đã chiêu mộ binh sĩ lập đồn để khôi phục quốc tộc chống lại họ Hồ, chứ không thành binh sĩ trở về làm dân thường".

Tư liệu địa phương thôn Phất Lộc (xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình) cho biết bà công chúa Bảo Hoa con vua Duệ Tông chính là người lập ra điền trang Phất Lộc. Nơi bà Bảo Hoa ở nay thành là mảnh đất có tên là "Miễn hoàn điền" về sau có ngôi đền thôn Phất Lộc thờ Bà cũng vào khoảng thời gian này. Điền trang Vợ Hoạn phủ Thiên Trường (nay thuộc Nam Ninh, Nam Định) do quý tộc Trần Chiêu Đức thành lập. Như vậy đến nửa sau thế kỉ XIV điền trang vẫn tiếp tục được thành lập ở vùng ven biển thuộc châu thổ sông Hồng.

Điền trang được thành lập là điểm dân cư tiêu biểu cho hình thái kinh tế - xã hội thời Trần. Trong những điểm dân cư trên, ruộng đất được chia thành từng phần nhỏ lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất. Bài văn Trần triều công chúa nghi của Viên Thôn linh từ có chép:

"Thổ điền quân cấp mỗi nhà

Đội công đức chúa biết là đến đâu''.

Những nô ở đây có nhiều thân phận khác nhau, có người là nô tì, có người là nông dân lệ thuộc hoặc là ''nô tì hai ba năm sau khi khẩn thành ruộng cho họ lấy nhau mà ở ngay đấy". Mối liên kết cư dân ở đấy vẫn lấy họ hàng, xóm ''giáp" làm cơ sở, hình thức bóc lột người lao động ở đây chủ yếu vẫn là địa chủ - tá điền có xen lẫn lối bóc lột nông nô - đa dạng phức tạp.

Điều lệ lập điền trang năm 1266 đã đẩy mạnh sự phát triển sở hữu lớn của các quý tộc Trần, tạo thêm một bước chuyển biến mạnh mẽ mở rộng cho hình thái kinh tế phong kiến.

Tuy thuộc vào loại hình sở hữu lớn, nhưng diện tích điền trang cũng không nhiều lắm. An Lạc, Văn Lâm, Viên Thôn, Tô Xuyên v.v. đến ngày nay cũng chỉ là thôn làng. Ruộng đất An Lạc khoảng 500 mẫu là nhiều nhất. Văn Lâm và Viên Thôn thì từ 150 mẫu đến 250 mẫu. Điền trang thế kỉ XIII, XIV của các quý tộc Trần không hoàn toàn như lãnh địa theo kiểu phương Tây: có khu đất riêng của chúa đất (domaine) tách biệt với phần ruộng của nông dân. Điền trang thời Trần là khu vực kinh tế hỗn hợp của những hình thức bóc lột nông nô, nô tì và nông dân lệ thuộc. Tuy nhiên,về mặt nào đó cũng như thái ấp, kinh tế điền trang không hoàn toàn phân tán, bóc lột tô lao dịch (có mặt gần giống trang viên châu Âu đương thời).

Từ năm 1266 trở đi, bản thân tầng lớp quý tộc đã dựa vào hai tổ chức kinh tế cơ bản: thái ấp và điền trang mà phát triển vững vàng đến giữa thế kỉ XIV. Điền trang và thái ấp là hai bộ phận quan trọng có ý nghĩ bấy giờ như tính chất loại hình sở hữu ruộng đất phong kiến quý tộc thời bấy giờ.

Ruộng đất tư hữu của địa chủ .

Năm 1254, một thời điểm quan trọng đánh dấu sự phát triển của ruộng đất tư hữu, triều đình ra điều lệnh "bán ruộng công, mỗi diện là 5 quan tiền cho nhân dân làm của tư”. Hẳn đây là đòi hỏi của tư hữu ruộng đất, nhưng việc làm của triều đình đã mở rộng cửa cho ruộng đất tư hữu và sự thay đổi của các chủ sở hữu. Tiền tệ, đã thâm nhập mạnh mẽ vào ruộng đất. Ruộng đất đã trở thành hàng hóa mua bán trao đổi, tạo ra cho xã hội một tầng lớp đặc biệt địa chủ thường hay địa chủ thứ dân và một tầng lớp tiểu nông tư hữu nhỏ phổ biến trong xã hội.

Vào đầu thời Trần, chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân đã mở rộng. Việc mua bán và tranh chấp ruộng đất đã có ở nhiều nơi, nên năm 1227, triều đình phải quy định việc điểm chỉ lên các giấy tờ, văn khế mua bán ruộng đất. Ít lâu sau, triều đình lại ra lệnh: "phàm làm giấy tờ về chúc thư, văn khế ruộng đất và vay mượn tiền bạc thì người làm chứng in tay ở ba dòng trước, người bán in tay ở bốn dòng sau".

Năm 1248, nhà Trần tiến hành đắp đê trong cả nước. Để bảo vệ quyền tư hữu ruộng đất của dân, chính quyền đã hạ lệnh cho các quan địa phương nếu đắp vào ruộng dân thì phải đo đạc mà đền bù bằng tiền.

Vào đầu những năm 80 của thế kỉ XIII, thì điền chủ nhiều ruộng đất có ở khắp nơi. Nhiều lần triều đình kêu gọi bỏ thóc lúa giúp quân lương. Trong chiến tranh chống Mông - Nguyên lần thứ hai và ba, nhà vua đã ban chức ''giả lang tướng'' cho nhà giầu nộp nhiều thóc cho triều đình.

Tuy nhiên, sự giàu có cũng như sự bóc lột của tầng lớp địa chủ này không tạo nên địa vị thống trị cao sang được ưu đãi. Họ cũng chỉ được Nhà nước coi là dân thường như một số tầng lớp lao động thấp kém khác. Luật nhà Trần năm 1228 quy định rõ: ''Người có quan tước, con cháu được tập ấm mới được ra làm quan, người giàu có khỏe mạnh mà không có quan tước thì sung quân đổi đời làm lính”. Chính vì vậy mà chúng tôi dùng thuật ngữ địa chủ thường hay địa chủ thứ dân.

Việc mua bán ruộng đất công khai, hợp pháp lại được Nhà nước ủng hộ bằng pháp lệnh năm 1254 làm cho sở hữu địa chủ phát triển mạnh thêm. Nhưng chính sự mua bán ruộng đất cũng làm cho tính chất sở hữu trong thành phần kinh tế này luôn luôn dao động, không tập trung, không ổn định như thái ấp, điền trang. Sở hữu của địa chủ tuy lớn, nhưng lại phân tán. Đồng thời, giữa sở hữu địa chủ và sở hữu tiểu nông không có hàng rào cách biệt: tiền tệ và các điều kiện khác như gặp khó khăn sa sút có thể tạo ra sự chuyển hóa hai hình thái sở hữu và hai thành phần xã hội này.

Tiểu nông tư hữu

Kinh tế hàng hóa - tiền tệ cũng là một trong những nguyên nhân tạo ra sở hữu ruộng đất tiểu nông. Lệnh bán ruộng công làm ruộng tư năm 1254 cũng là điều kiện cho gia đình tiểu nông mua thêm ruộng đất, quyền lực tiền tệ đã làm chuyển đổi  quyền sở hữu ruộng đất. Văn bia Sùng Hưng tự, khắc năm 1293 (xã Tiểu Liên, Mỹ Lộc, Nam Định) ghi hàng loạt các cư sĩ cúng vào chùa vài ba sào đến lớn nhất là 5 sào.

Vậy là đến thế kỉ XIII, việc mua bán ruộng đất đã tương đối phổ biến. Những năm mất mùa đói kém là lúc mà ruộng đất chuyển từ dân nghèo vào địa chủ. Tháng 4 năm 1290 có đói lớn ''ba thăng gạo giá 1 quan, nhân dân nhiều nơi phải bán ruộng đất và bán con trai con gái làm nô tì cho người khác, một người giá 1 quan tiền''. Cuối mùa xuân năm 1292, tình trạng mua bán ruộng đất lại dồn dập hơn. Triều đình lại phải ra lệnh quy định thể thức làm văn tự bán đoạn hay đợ ruộng đất, lại ''xuống chiếu rằng những người mua dân lương thiện làm nô tì thì cho chuộc lại, ruộng đất và nhà ở thì không theo luật này''.

Sử cũ ghi chép rất ít về sở hữu nhỏ của tiểu nông, tư liệu còn lại về tầng lớp này cũng không nhiều lắm. Tuy nhiên cũng có thể thấy rằng bên cạnh những nô tì, nông nô, nông dân cày ruộng làng xã cũng đã có nhiều tiểu. Gặp năm mất mùa đói kem họ lại phải bán con cái, bán ruộng đất cho địa chủ, không ít người lâm vào cảnh làm nô tì, đặc biệt trong hai năm Canh  Dần, Tân Mão(1290,1291) “ngoài đường nhiều người chết đói”.

Sản xuất nông nghiệp trên mảnh đất nhỏ thuộc bất cứ hình thái sở hữu nào tiền chủ nghĩa tư bản cũng đều lấy tiểu nông làm đơn vị sản xuất cơ sở. Dù là nông dân cày ruộng làng, cày ruộng tư hữu của quý tộc, địa chủ, cả đến những nông nô thì công việc làm ăn vẫn tiến hành trong gia đình cá thể là chủ yếu. Ruộng của Nhà nước, thái ấp và điền trang của quý tộc, quan lại người lao động đều sử dụng hình thức kinh doanh nhỏ dưới dạng tiểu nông.

Sản xuất tiểu nông đã cộng sinh với các loại hình quan hệ sản xuất khác nhau. Các thành phần kinh tế điền trang thái ấp, địa chủ v.v... đều dựa trên sản xuất tiểu nông dưới những hình thức và mức độ bóc lột khác nhau. Và trên một hàm nghĩa rộng lớn hơn: nông dân ''tự do'', nông dân tá điền, nông nô (mà trong đó không loại trừ một bộ phận gọi là nô) đã hòa vào nhau lập thành một thành phần kinh tế - xã hội rộng lớn. Nó sẽ góp phần rất lớn cùng với sở hữu ruộng đất Nhà nước, hạn chế sự phát triển của điền trang thái ấp, hạn chế con đường phong kiến theo kiểu lãnh địa bóc lột nông nô trong thế kỉ XIII và các thế kỉ sau.

(Theo Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nhà Xuất bản giáo dục, năm 1997)

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Liên hoan ẩm thực miền Trung - Huế 2012 (02/07/2012)
Phố Hàng Giấy - Một phố nghề xưa ở đất Thăng Long (19/07/2011)
Thăng Long - Hà Nội thời Tây Sơn (1788 - 1802) (20/09/2010)
Chính sách đào tạo quan lại thời Lê Thánh Tông (19/12/2009)
Nhà Thục (257- 208 trCN) 50 năm, quốc hiệu Âu Lạc, kinh đô Phong Khê (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội) (Phần II) (20/10/2009)
Phong kiến phương Bắc đô hộ lần thứ nhất (207 trCN-39) – Nhà Triệu (207 – 111 trCN) 97 năm, quốc hiệu Nam Việt, kinh đô Phiên Ngung (gần Quảng Châu, Trung Quốc) (Phần III) (20/10/2009)
Truyền thuyết Kinh Dương Vương họ Hồng Bàng - Lạc Long Quân (Phần I) (20/10/2009)
Thử nhận xét về An Nam Đại quốc họa đồ*** (03/10/2009)
Võ Nhất Nam với sự tích ngày giỗ Tổ mùng 5 Tết (09/02/2008)
Tình cây và đất (03/02/2008)
 Trang 1 / 5 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Tình hình kinh tế thời Trần (11/05/2006)
Nhà Trần xây dựng và củng cố chính quyền (tiếp) (04/05/2006)
Nhà Trần xây dựng và củng cổ chính quyền (tiếp theo kỳ trước) (28/04/2006)
Nhà Trần (tiếp) (20/04/2006)
Đại Việt ở thế kỉ XIII đầu XV: Thời Trần- Hồ (21/03/2006)
Nhà Lý suy vong (tiếp) (14/03/2006)
Nhà Lý suy vong (02/03/2006)
Kháng chiến chống Tống (1075 - 1077) (11/11/2005)
Kinh tế Đại Việt thời Lý (10/11/2005)
Đại Việt ở thế kỷ XI – XII – thời Lý (31/10/2005)
 Trang 1 / 2 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Đồng chí Mai Tiến Dũng giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam
· Hội nghị Châu Á - Thái Bình Dương (APK) lần thứ 14 diễn ra tại TP Hồ Chí Minh
· Quốc hội thông qua Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi); Luật bảo hiểm xã hội (sửa đổi)
· Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì
· Đề xuất lấy phiếu tín nhiệm chỉ nên để 2 mức
· Thừa Thiên Huế: Hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt
· Bắt nhóm đối tượng lừa đảo, giả danh Thứ trưởng Bộ Y tế để chiếm đoạt gần 5 tỷ đồng
· Giao UBND tỉnh Quảng Ninh thực hiện dự án cao tốc Hạ Long - Móng Cái
· Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch: Vẫn giữ giấy khai sinh
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet