Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 29 tháng 7 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  kythuat@cpv.org.vn
dangcongsan@cpv.org.vn
Chính sách đào tạo quan lại thời Lê Thánh Tông
15:41 | 19/12/2009

(ĐCSVN) – Trong lịch sử, vương triều Lê Thánh Tông luôn được biết đến là một trong những triều đại đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, ngày nay việc nghiên cứu những kinh nghiệm của triều Lê trong việc đào tạo, sử dụng đội ngũ quan lại, trên cơ sở đó để học tập và vận dụng vào việc xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước ta hiện nay có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Vào nửa cuối thế kỷ XV, vương triều Lê Thánh Tông (1460-1497) đã đạt được những thành tựu rực rỡ trong xây dựng và phát triển đất nước, được xem là đỉnh cao của sự phát triển trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Với thời gian 38 năm trị vì, Lê Thánh Tông đã đưa nước Đại Việt trở thành một quốc gia hùng cường trong khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ cả về mặt kinh tế, chính trị và văn hoá – xã hội. Nhà nước Đại Việt được củng cố vững chắc, thống nhất theo mô hình nhà nước phong kiến trung ương tập quyền và thực hiện việc cai trị đất nước, quản lý xã hội bằng pháp luật. Gắn liền với việc đổi mới, xây dựng thể chế chính trị, Lê Thánh Tông đặc biệt quan tâm xây dựng con người chính trị, trọng tâm là vấn đề đào tạo và sử dụng quan lại. Nhờ đó, đội ngũ quan chức triều đình cũng như quan lại địa phương đã được tăng cường về số lượng, nâng cao chất lượng cả về trình độ, đạo đức và năng lực, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của phát triển đất nước. Sau đây là một số tư tưởng chủ yếu về đào tạo quan lại thời Lê Thánh Tông.

Chuẩn hoá đội ngũ quan lại về trình độ và bằng cấp

Thời Lê Thánh Tông, cùng với việc Nho học giành được địa vị độc tôn, chế độ khoa cử Nho học mới được mở rộng, phát triển mạnh mẽ và đi vào nền nếp theo phương châm “lấy trọng đạo sùng Nho làm việc trước, kén kẻ sĩ làm trước tiên phong trong phép trị nước”. Sự phát triển của giáo dục thi cử thời kỳ này là điều kiện thuận lợi để Lê Thánh Tông lấy trình độ học vấn làm cơ sở để tuyển chọn quan lại. Đại đa số giới chức quan liêu ở các cấp chính quyền trung ương và địa phương cùng các cơ quan chuyên môn đã xuất thân từ khoa cử, là những người đỗ đạt qua các kỳ thi nghiêm ngặt, dù họ thuộc thành phần xã hội nào (trừ người thuộc diện cấm thi): “Phàm các lại viên có chân thi hội đỗ Tam trường thì bổ làm chánh quan châu huyện và các chức kinh dịch, thủ lĩnh, phó sứ. Còn các lại viên không có chân thi hội đỗ Tam trường thì chỉ bổ chức thủ lĩnh hoặc châu huyện”. Các vệ ty cũng được chọn từ các nha môn trong những người đã dự thi khoa Tiến sĩ. Thậm chí đến xã trưởng – tuy không phải là một chức quan triều đình – song việc lựa chọn cũng dựa trên tiêu chỉ căn bản là có học: “Phải xét những người biết chữ, có tài cán mới nên lưu lại để tiện cho việc xét đoán cáo trình các việc và tiện cho dân. Nếu không biết chữ thì cho nghỉ”. Lê Thánh Tông mong muốn tạo được một bộ máy quan lại gồm những con người ưu tú trong giới trí thức Nho học, được chọn lịch kỹ càng làm chỗ dựa vững chắc cho triều đình, bởi vậy, trong buổi “lễ ăn thề” với thượng thư các bộ vào mùa đông năm Quang Thuận thứ 4 (1463), ông dẫn lại lời của Tư Mã Quang: “Người quân tử là cội gốc để tiến lên việc trị bình, kẻ tiểu nhân là thềm bậc để đi đến họa loạn”, cho nên: “Ta và các ngươi đã thề với trời đất dùng người quân tử, bỏ kẻ tiểu nhân, ngày đêm chăm chắm không lơi”.

Thu hút, bồi dưỡng nhân tài

Thời Lê Thánh Tông, triều đình bỏ chế độ bổ dụng các vương hầu quý tộc vào các trọng trách của triều đình, mà chỉ lấy những người có khả năng thực sự. Các thân vương, công hầu... được ban cấp bổng lộc rất hậu, nhiều khi quyền lợi của họ lớn hơn so với các quan chức đại thần trong triều nhưng nếu không có tài năng, đỗ đạt qua khoa cử Nho học thì cũng không được cử làm quan. Cụ thể là, “các con của hoàng tử, thái tử đều được phong tước công cho tập trung ở kinh sư, cho ăn lộc vua ban, ruộng cho làm ruộng thế nghiệp chứ không cho ra cai trị ở phủ lộ, nếu có tham dự triều chính thời cũng bàn bạc các quan trong triều”. Hơn nữa, người họ vua, các tước công hầu bá… cho ruộng tứ, bãi dâu tứ, đầm tứ bằng thực tiền, sau khi chết 3 năm con cháu chiếu sổ trả lại vua, không được ẩn dấu chiếm giữ như trước”. Như vậy, đặc quyền về chính trị không còn, chỉ còn ưu đãi về kinh tế, hơn nữa ưu đãi này cũng không có tính cha truyền con nối. Đây là bước đi mạnh dạn nhằm loại bỏ tầng lớp địa chủ quý tộc nắm giữ quyền lực cả về kinh tế và chính trị vốn vẫn là rường cột của các vương triều trước, nhằm loại trừ nguy cơ cát cứ địa phương. Quốc triều hình luật, Điều 139 quy định: “những người ỷ thế nhà quyền quý để cầu cạnh xin quan tước thì xử tội biếm hoặc đồ”. Từ góc độ này, cũng là nhằm ngăn chặn tệ thao túng quyền lực từ tầng lớp vương hầu.

Với chủ trương khuyến khích Nho học và một chế độ giáo dục khoa cử nề nếp, cùng một lúc, Lê Thánh Tông đã đạt được hai mục tiêu: thứ nhất, tuyển chọn được những người ưu tú cho bộ máy của nhà nước, thực hiện chuyển giao quyền lực từ quý tộc sang quan liêu nho sĩ; thứ hai, đưa được Nho giáo thâm nhập sâu vào xã hội, khẳng định rõ đây là thời kỳ nhà nước gắn với sự cai trị của các quan văn và tuân theo những tư tưởng chính trị Nho giáo. Bản thân đội ngũ quan chức thời Hồng Đức, những người thành công trong các kỳ thi dân sự, cũng có yêu cầu tự nhiên, mong muốn xây dựng một nhà nước trong sạch, có kỷ cương và vững mạnh theo phong cách trí thức của họ.

Như vậy, trên nền tảng tư tưởng chính trị Nho giáo, chính sách đào tạo thời Lê Thánh Tông nhằm nâng cao trình độ văn hóa trong toàn xã hội nói chung, đặc biệt là những người được giao giữ các vị trí trong các cấp chính quyền, bổ sung và đổi mới đội ngũ quan lại có trình độ, năng lực ngày càng được nâng lên, thông qua đó để phát hiện, đào tạo nhân tài cho đất nước. Điều này không phải đợi đến Lê Thánh Tông, mà nhà Lê Sơ ngay khi mở đầu triều đại đã chú ý đến. Sách Kiến văn tiểu lục chép rằng: “Năm Mậu Thân niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1428) hạ chiếu cho trong nước dựng nhà học dạy dỗ nhân tài, trong kinh có Quốc Tử Giám, bên ngoài có nhà học các phủ”. Sách Việt sử thông giám cương mục cũng cho biết: “Nhà nước khi mới lập quốc, để ý ngay đến việc gây dựng nhân tài; trong kinh thì lập Quốc Tử Giám, lựa chọn con cháu nhà các quan và những người tuấn tú trong nhân dân sung làm giám sinh. Ngoài các lộ thì lập trường học ở từng lộ, lựa các con em những nhà lương thiện trong dân gian sung làm lộ hiệu sinh (tức học sinh trường lộ - TG), cử những nhà nho đáng làm thầy đứng ra dạy dỗ”. Tuy nhiên, phải đến thời Lê Thánh Tông tư tưởng trọng dụng nhân tài mới trở thành một chủ trương lớn, được xây dựng thành chính sách và cụ thể hóa bằng những hành động cụ thể. Theo đó, việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng gắn bó chặt chẽ với sử dụng nhân tài, nhân tố quyết định đến sự tồn vong và hưng thịnh của giang sơn, xã tắc, trọng điểm chính là vào đối tượng quan chức các cấp chính quyền, nhất là đội ngũ quan chức cao cấp ở trung ương, đã có tác dụng rất lớn trong việc làm trong sạch, vững mạnh chính quyền.

Tinh thần nhất quán của Lê Thánh Tông trong khoa cử là các vấn đề chính sự, tìm nhân tài quản lý đất nước và đề xuất các giải pháp cai trị đất nước. Ông đòi hỏi các nho sĩ phải đưa ra được kế thuật trị nước an dân. Phan Huy Chú nhận xét “Bản triều ờ đời Hồng Đức, phép dạy phép thi cũng chỉ có kinh nghĩa, tứ lục, thơ phú, đối sách. Nhưng kinh nghĩa không cứ chương nào thiên nào, cắt chương lấy nghĩa, tùy ý đặt lời, nếu không là người học rộng hiểu sâu, không cứ chương nào, không nệ thiên nào, học trò nếu không học rộng kinh nghĩa thì không làm nổi. Tứ lục, thơ phú, có khi ra ở ngoài sách, hoặc hỏi về chính sự đương thời”. Việc trọng thi cử, trọng nhân tài Nho học đã được lưu lại bằng những tư tưởng đúng đắn trong văn bia tiến sĩ được dựng năm 1484: “sự nghiệp trị nước lớn lao… không gì cần kíp hơn nhân tài”, “trị nước mà không lấy nhân tài làm gốc … sao có thể đạt tới chính trị phong hoá phồn vinh, văn vật điển chương đầy đủ”.

Thời Lê Thánh Tông, trong thời gian 40 năm đã thường xuyên và liên tục tổ chức các kỳ thi tuyển nhân tài, cung cấp cho bộ máy quan chức nhà nước, đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của triều đình và xã hội lúc đó. Chỉ tính riêng các kỳ thi tuyển tiến sĩ tới 12 khoa thi (cả thời Lê Sơ là 26 khoa thi). Hầu hết số tiến sĩ tuyển chọn qua các kỳ thi này đã tham gia vào bộ máy quan chức của nhà nước, được bổ nhiệm vào các vị trí quyền lực ở Kinh đô và ở các đạo, trấn đã cho thấy sự thịnh trị của giáo dục khoa cử cũng như vai trò của nó trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước thời đó. Sự thành thạo về lý luận kinh điển Nho giáo và môi trường xã hội lành mạnh của đất nước là điều kiện thuận lợi cho sự thành đạt của họ. Đúng như lời nhận xét của Phan Huy Chú: “Đến đời Quang Thuận, Hồng Đức vận nước tươi sáng do khoa mục xuất thân, nhân tài đầy dẫy, đủ cung cho nước dùng” .

Hệ thống đào tạo

Hệ thống trường công: Trường công là hệ thống trường do nhà nước tổ chức và quản lý, bao gồm 2 cấp Trung ương và địa phương - đó là Quốc Tử Giám và các trường đặt ở phủ huyện (Nhà học). Cơ quan quản lý việc học là Bộ Lễ. Bộ Lễ có khá nhiều nhiệm vụ khác ở lĩnh vực văn hoá, y tế, ngoại giao như tế lễ, tiệc yến, tiệc mừng, việc học, việc thi cử, áo mũ, ấn dấu, chương tấu, bài biểu, đi sứ, thiên văn, về y bốc, tăng đạo, giáo phường, nhã nhạc… nên việc học thời đó không phát triển theo hướng một bộ môn độc lập mà chỉ làm thành một bộ phận hành chính, đào tạo quan liêu.

Năm 1076, Lý Nhân Tông lập Quốc Tử Giám, là nhà quốc học đầu tiên của nước ta. Năm 1253, Trần Thánh Tông gọi là Quốc học viện, sau đó nhà Trần còn đổi là Thái học viện, đều ở địa điểm Văn Miếu Hà Nội ngày nay. Đến thời Lê Sơ, trở lại tên Quốc Tử Giám nhưng trong nhiều văn sách vẫn gọi là Nhà Thái học, ngoài con em tầng lớp quý tộc, quan liêu còn tuyển chọn cả con cháu các nhà thường dân, có đủ tư chất thông minh và hiếu học đưa vào làm giám sinh. Đây là trường học lớn nhất và duy nhất ở kinh đô, có 2 chức năng chính là dạy dỗ, bồi dưỡng, đào tạo ra tầng lớp nho sinh để cung cấp cho bộ máy quan liêu nhà nước đồng thời quản lý việc bồi dưỡng và đào tạo, tức Quốc Tử Giám là cơ quan giáo dục cao nhất trong nước. Ở thời Lê Thánh Tông, nhà nước quân chủ quan liêu đã rất quan tâm đến công việc củng cố tổ chức của cơ sở đào tạo quan chức chủ yếu này. Tế tửu là chức quan đứng đầu Quốc Tử Giám, có nhiệm vụ phụ trách chung và kiêm chủ tế ở Văn Miếu; cấp phó là chức Tư nghiệp đặc trách việc giảng dạy và học tập. Phụ trách giảng dạy có các chức Giáo thụ, giúp việc là các Trực giảng và Trợ giáo, lại có các Bác sĩ, đi sâu vào việc sưu tầm, nghiên cứu giải thích các kinh sách, tư liệu. Những người được nhập học Quốc Tử Giám chia làm 2 loại: một loại gọi là giám sinh gồm có con các quan viên và đã thi đỗ 4 trường kỳ thi hương; một loại gọi là học sinh gồm quân và dân đã thi đỗ 4 trường kỳ thi hương (loại này tới năm 1483 mới lập ra). Giám sinh hay còn gọi là Xá sinh được chia thành 3 loại là Thượng xá sinh học bổng 10 quan tiền một tháng, Trung xá sinh 9 tiền và Hạ xá sinh 8 tiền một tháng. Họ là những người đã đỗ kỳ thi hương, trúng tuyển kỳ kiểm tra ở Bộ Lễ, được nội trú trong Quốc Tử Giám để chuẩn bị cho kỳ thi hội.

Để tăng cường giáo dục Nho học và khoa cử Nho học, dưới thời Lê Thánh Tông, Quốc Tử Giám và Văn Miếu ở Kinh đô Thăng Long được tu bổ, chỉnh trang, trong đó đáng lưu ý nhất là việc sửa nhà Thái học vào tháng giêng năm Hồng Đức thứ 14 (1483) trở thành không chỉ là nơi thờ tự ông tổ của đạo Nho mà còn là một “học cung”, học đường thật sự đáng kính trọng, nơi lưu giữ và đề cao tên tuổi những người có trình độ Nho học uyên thâm của đất nước. Hệ thống Văn miếu ở các đạo thừa tuyên, phủ, huyện cũng được tu tạo hoặc xây mới, trở thành biểu tượng văn học, giáo dục khoa cử của từng địa phương đó.

Hệ thống trường tư: Trong lịch sử giáo dục nước ta, trường tư xuất hiện sớm hơn trường công. Trong khoảng 170 năm tính từ khi giành được độc lập sau một nghìn năm Bắc thuộc cho đến khi ngôi trường công đầu tiên ra đời năm 1076, trên đất nước ta đã xuất hiện hàng trăm ngôi trường học dưới dạng nhà chùa. Tuy nhiên, những ngôi trường tư đúng nghĩa được hình thành vào thời Trần như các trường học của Chiêu Văn vương Trần Ích Tắc, của nhà Nho Chu Văn An… Đến thời Lê Thánh Tông thì trường tư đã khá phổ biến vì lúc này việc học rất phát triển và cũng rất cần thiết mà việc mở trường học cũng không bị rằng buộc vào những điều kiện quy định của Nhà nước, bất cứ nhà Nho nào cũng có quyền mở trường học, lớp học. Cũng có nhiều trường hợp như một số gia đình có điều kiện, coi trọng sự học con cái thì đón thầy về tại nhà để dạy cho con cái và từ đó có thể biến lớp học tư gia đó thành trường học chung cho cả thôn xóm, làng. Những trường lớp này thường gọi là các hương học (trường làng) vì nó nằm rải rác ở các làng mạc trong cả nước, nhằm giúp những con em ở xa xôi và con nhà nghèo không có điều kiện lên phủ huyện ăn học hoặc ra kinh đô học tập văn bài có những nhà Nho nổi tiếng trông nom giảng dạy. Gọi là hương học, nhưng học sinh cũng được học hành dạy dỗ đầy đủ các chương trình từ thấp lên cao để có đủ trình độ và điều kiện để đi thi. Có rất nhiều người đỗ đại khoa (đỗ tiến sĩ) chỉ học ở các trường làng.

Giữa hai hệ thống trường công và trường tư không có gì khác nhau ngoài việc các thầy giáo trường tư thì sống bằng tiền đóng góp của học trò còn các thầy giáo trường công thì hưởng lương bổng của triều đình. Chương trình học cùng cách thức học tập cũng giống nhau. Đến ngày đi thi các thí sinh không có sự phân biệt giữa trường công, trường tư, tất cả đều phải thi chung một trường với cùng một đề thi như nhau.

Xét về mặt hình thức, thời Lê Thánh Tông không có trường lớp đào tạo riêng cho một chuyên ngành nào cả nên cũng sẽ không có trường chuyên đào tạo quan chức. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung, chương trình học tập của học sinh trường Quốc Tử Giám, các trường học ở các lộ trong nước và kết quả các kỳ thi thì phần lớn quan lại, với tư cách là người làm công cho nhà nước đều được tuyển dụng từ những người thi đỗ trong các kỳ thi do Nhà nước tổ chức. Điều đó có nghĩa là, các trường học ở trong nước (ở Trung ương và địa phương) tuy không phải là trường chuyên đào tạo quan chức, nhưng trên thực tế, chúng đã làm chức năng của một trường đào tạo quan chức. Việc học và thi, do đó, trở thành phương thức chủ yếu đào tạo, tuyển dụng quan lại thời Lê Thánh Tông. Nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Thư nhận định rằng: “Lê Thánh Tông tôn sùng Nho giáo và tự hào rằng quan lại đương thời đều do cái mũ nhà Nho mà ra”. Với phương diện đó, học là để làm quan và trở thành một nghề nghiệp xã hội.

Nội dung, phương pháp đào tạo

Nội dung đào tạo: Các thầy giáo ở Quốc Tử Giám và các trường lớp khác, một mặt xuất phát từ những nguyên lý và lý tưởng của đạo Nho, mặt khác bám sát yêu cầu đào tạo các quan chức ra phục vụ bộ máy quản lý nhà nước nên cần phải có những nội dung thích hợp để dạy dỗ học trò nhằm đào tạo họ thông thạo tinh thần và tư tưởng Nho giáo để có thể đảm nhận công việc cai trị dân chúng. Do vậy các sách giáo khoa dùng trong các trường lớp ở thời kỳ này trước hết và chủ yếu là các sách của Trung Hoa như Tứ thư, Ngũ kinh, Ngọc đường văn phạm, Văn hiến thông khảo, Văn tuyển và Cương mục học quan”. Sách Tứ thư (gồm Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử), Ngũ kinh (gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu) được Khổng Tử (ông Tổ của Nho giáo) và các môn đệ hệ thống lại thành những sách kinh điển của Nho gia. Sách Ngọc đường văn phạm chưa khảo cứu được tác giả. Sách Văn hiến thông khảo gồm 348 quyển do Mã Đoan Lâm nhà Nguyên biên soạn. Sách Văn tuyển còn gọi là Chiêu minh văn tuyển gồm 602 quyển do Tiêu Thống, Chiêu Minh- thái tử nhà Lương biên soạn. Sách Cương mục tức Thông giám cương mục gồm 592 quyển do Chu Hy nhà Tống biên soạn. Ngoài ra, chương trình học để đi thi còn phải kể đến những sử sách và thơ văn gọi là ngoại thư như bộ Cổ văn gồm các văn phẩm của các văn thân thi sĩ Trung Hoa từ Tiên Tần, Chư Tử đến đời Tống; bộ Đường thi và mấy cuốn Thi văn đời đường.

Tháng 3 năm Đinh Mùi (1467) bắt đầu đặt chức “Ngũ kinh bác sĩ” nhằm dạy Ngũ kinh, mỗi người chuyên nghiên cứu một kinh để dạy học trò. Sở dĩ có lệnh này vì lúc ấy, giám sinh nhiều người chuyên trị Kinh Thi, Kinh Thư, ít người học tập sách Lễ Ký, Chu Dịch và Xuân Thu. Trước đó, vào năm Quang Thuận thứ 5 (1465), Lê Thánh Tông còn cho tổ chức in và phát hành rộng rãi bản in Ngũ kinh cho học sinh Quốc Tử Giám nhằm khắc phục tình trạng thiếu sách học.

Ở các địa phương, việc khuyến học và nâng cao chất lượng giáo dục cũng được chú trọng. Những sĩ nhân đã từng đi học, biết làm văn, có hạnh kiểm, đã thi đỗ và được miễn tuyển thì cho miễn nửa phần thuế và sai dịch. Sách giáo khoa (không chỉ có Tứ thư, Ngũ kinh mà còn gồm cả Đăng khoa lục, Hội thí lục, Ngọc đường văn phạm, Văn hiến thông khảo….) cũng được in và phát đến các trường học của phủ để các “học quan do đấy để giảng dạy, khoa cử do đấy để lấy nhân tài”. Việc lựa chọn những người đảm nhiệm việc giảng dạy học trò ở các trường địa phương cũng được chú ý, đặt tiêu chuẩn và tổ chức thi để lựa chọn. Có lần, vào năm 1468, Lê Thánh Tông đã khiển trách Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Như Đổ cố xin cho một quan giáo thụ (quan coi việc học tập ở phủ) làm huyện quan: “Giáo thụ phải giữ chức lâu năm đế đào tạo nhân tài cho có hiệu quả, thế mà còn dám xin đổi chức, tội ấy không nhỏ”.

Phương pháp đào tạo: Thời gian học tập ở Quốc Tử Giám nói chung là 3 năm. Phương thức đào tạo gồm các hình thức giảng sách, làm văn và bình văn. Trong những buổi giảng bài và bình văn, ngoài các giám sinh chính thức, còn có các nho sinh từ các nơi khác đến dự thính. Nhiều buổi bình văn rất đông đúc, có nhiều ý kiến tranh luận trở thành những buổi hội thảo rất sôi nổi, lý thú. Phương pháp dạy và học thời đó đều bắt buộc học trò phải học thuộc lòng. Nhưng cũng chính vì vậy mà sau này học trò càng ngày càng lớn, họ càng nhớ ôn lại thì dần dần mới vỡ nghĩa và sẽ thấm sâu vào tâm thức người học để trở thành những câu châm ngôn dùng làm bài học thiết thân cho cuộc sống và công việc hằng ngày.

Hình thức học tập ở các trường công cấp đạo, phủ, huyện trong nước cũng theo khuôn phép của Quốc Tử Giám, tức là cũng có 3 phần giảng sách, làm văn và bình văn cụ thể như sau:

Giảng sách: Mỗi tháng các học quan định những kỳ giảng sách nhất định. Theo lệ định này các học trò từ các hương trường cùng với học trò các trường khác đến đông đủ để nghe các vị học quan giảng sách kinh truyện.

Làm văn: Cứ mỗi tháng cũng định những kỳ tập làm văn như nghe giảng sách vậy. Vào ngày hôm ấy, thầy giáo ra đầu bài cho học sinh làm. Có 2 lối tập làm văn, làm văn tại trường là thầy giáo ra đầu bài buộc học sinh làm ngay tại trường và nộp bài ngay trong ngày hôm đó còn lối văn tập làm tại nhà tức là học sinh mang đầu bài về nhà làm và đúng kỳ hạn đem nộp bài.

Bình văn: Học sinh nộp quyển cho thầy giáo, khi đã chấm xong định ngày họp hội học sinh trở lại để phê bình. Những đoạn văn hay, những bài đặc sắc sẽ được đọc lên cho học sinh nghe, thỉnh thoảng thầy giáo còn đặt ra những giải thưởng cho cuộc bình văn thêm sôi nổi, hứng thú. Thông thường, những buổi bình văn sẽ được định vào ngày cuối tháng. Học sinh nào tốt giọng sẽ được cử ra để đọc những đoạn văn hay hoặc những bài xuất sắc.

Ở Quốc Tử Giám, thỉnh thoảng nhà vua cũng ngự ra nghe giảng sách, các quan thông hiểu kinh điển Nho giáo sẽ phụ trách việc giảng sách và kinh truyện cho vua nghe.

Nội dung thi: Toàn bộ việc học hành, dạy dỗ của học trò và thầy giáo trong nhà trường đều phục vụ cho việc thi cử vì đây là khâu cuối cùng của việc đào tạo và cũng là khâu đầu tiên của việc tuyển chọn quan chức cho bộ máy nhà nước. Tuỳ theo mục đích yêu cầu của tuyển chọn quan chức mà Nhà nước quyết định mở các kỳ thi như khoa thi tuyển Tiến sĩ, thi Hoành từ, thi khảo thí…

Các học trò đi thi nhất nhất phải trải qua các môn thi kinh nghĩa, văn sách, thi, phú, chiếu, chế, biểu. Kinh nghĩa là một bài văn nhằm giải thích ý nghĩa của một câu trích trong kinh truyện. Lúc làm bài thí sinh phải nhằm vào câu dùng ra làm đề bài, dựa theo sự chú giải của các tiên Nho mà giải thích rộng ra. Lại phải hiểu rõ ai là tác giả của câu kinh để giả đóng vai trò thánh hiền mà chú giải. Nếu có dùng điển cố thì lưu ý đến những chữ từ đời đó để trở về trước mà dùng cho trúng cách. Văn sách là một bài văn làm để bày tỏ cho người ta thấy những hiểu biết, năng lực của mình về vấn đề mà đề bài đã đặt ra. Văn sách cũng như kinh nghĩa đều là văn xuôi, không có vần, thường có đối nhưng cũng không bắt buộc. Văn sách cũng là một bài văn vấn đáp, nghĩa là quan trường đã hỏi điều gì thì phải trả lời cho tường tận và phân minh điều ấy. Thi có 2 lối cổ thể và Đường luật, nhưng thi Đường luật được dùng nhiều nhất trong các khoa thi; đầu bài thi sẽ nói rõ loại Đường luật hay cổ thể và còn nói rõ loại vần phải gieo. Phú là một thể văn có vần dùng để tả cảnh vật hay phô diễn tâm tình. Trong cách làm bài thi, học sinh phải tôn trọng nghiêm chỉnh những qui tắc về bố cục về niêm luật. Đề thi thường là những câu hỏi thuộc về kinh sử, thí sinh phải tuỳ đầu đề mà diễn tả sao cho quan trường thấy rõ ý tưởng cao siêu cùng với cái học uyên thâm của mình và phải tinh ý hết lòng tán dương triều đình và nhà vua đương thời. Nếu bài nào không chú ý đến điểm này, điểm thi sẽ thấp. Chiếu là lời vua ban bố, hiệu lệnh cho toàn thể nhân dân; ví dụ như “Chiếu dời đô” của Lý Thái Tổ. Chế là lời vua phong thưởng cho công thần, danh sĩ. Biểu là bài văn của thần dân dâng lên vua để chúc mừng hoặc tạ ơn bày tỏ một điều gì. Trong khi làm bài, thí sinh phải đứng vào địa vị người nói mà viết như làm chiếu, chế thì phải thay vua nói với thần dân quân sĩ còn làm biểu thì nói thay cho dân. Đề thi thường mang tính lịch sử, thí sinh phải biết dựa vào đó mà viết cho sinh động và hợp với biến chuyển lịch sử cùng nhu cầu xã hội. Chiếu, chế, biểu là những loại công văn mà học trò phải tập luyện rất lâu trong ghế nhà trường để sau khi đỗ đạt ra làm quan còn có thể sử dụng được. Ngoài ra còn một số những môn thi khác như ám tả, tập viết, luật pháp, toán pháp, toán học… nhưng không thường xuyên.

Cụ thể, theo quy định năm Quang Thuận thứ 3 (1462) thì kỳ thi hương “trước hết là thi ám tả để loại bớt” và nêu rõ đề mục thi gồm 4 kỳ là: “Kỳ thứ nhất thi Tứ Thư, kinh nghĩa gồm 5 bài. Kỳ thứ hai thi chiếu, chế, biểu dùng cổ thể hay tứ lục. Kỳ thứ ba thi thơ, dùng Đường luật, phú dùng cổ thể hay Ly Tao, văn tuyển, từ 300 chữ trở lên. Kỳ thứ tư thi một bài văn sách, đầu đề hỏi về kinh, sử hay việc đương thời, hạn 1000 chữ”. Đối với thi hội, năm Hồng Đức thứ 3 (1472) nêu rõ nội dung thi qua 4 kỳ như sau: “Kỳ thứ nhất ra 8 đề về Tứ thư, người thi tự chọn lấy 4 đề, làm 4 bài văn, Luận Ngữ 4 đề, Mạnh Tử 4 đề. Ngũ kinh: mỗi kinh 3 đề, người thi tự chọn một đề mà làm. Duy kinh Xuân Thu thì 2 đề gộp làm một mà làm. Kỳ thứ hai thi chế, chiếu, biểu; mỗi loại 3 đề. Kỳ thứ ba, thơ, phú mỗi loại 2 đề, phú dùng thể Lý Bạch. Kỳ thứ tư, 1 bài văn sách, hỏi về chỗ dị đồng trong nghĩa lý của kinh truyện, điều hay dở trong chính sự của các đời”. Theo quy định năm Hồng Đức thứ 6 (1475), thi hội cũng gồm 4 kỳ với các môn như sau: “Kỳ thứ nhất, về Tứ Thư: Luận Ngữ 3 đề, Mạnh Tử 4 đề, Trung Dung 1 đề, cộng là 8 đề. Người thi tự chọn 4 đề mà làm, không được thiếu. Về Ngũ Kinh, mỗi kinh 3 đề, riêng Xuân Thu 2 đề. Kỳ thứ hai, thơ và phú mỗi loại một bài. Thơ dùng thể Đường luật, phú dùng thể Lý Bạch. Kỳ thứ ba, chiếu, chế, biểu mỗi thể loại một bài. Kỳ thứ tư, sách vấn, đầu đề văn sách hỏi về ý nghĩa dị đồng của kinh, sử và nội dung về thao lược của tướng soái”.

Thể lệ thi: Việc tổ chức thi cử là độc quyền của Nhà nước, giao cho Bộ Lễ đảm nhiệm. Những quy định về việc thi do Bộ Lễ đề xuất, nhà vua ra quyết định cuối cùng. Trải qua các đời từ Thái Tổ qua Thái Tông, Nhân Tông đến Thánh Tông đã hoàn thiện các thể lệ về thi cử trở thành chế độ của Nhà nước.

Việc tổ chức thi được tổ chức tuần tự theo mức độ từ thấp đến cao qua các kỳ thi hương, thi hội, thi đình. Thi hương là kỳ thi ở địa phương, thường tổ chức ở các đạo thừa tuyên. Thi hội và thi đình là kỳ thi quốc gia dành cho những người đã kinh qua thi hương và các giám sinh đã mãn khoá Quốc Tử Giám, nếu đỗ sẽ mang lại vẻ vang tột đỉnh cho một Nho sĩ và cũng là cuộc kiểm tra đánh giá cao nhất đối với các bậc tài năng của đất nước.

Quy chế thi: Học sinh muốn được dự kỳ thi hương dứt khoát phải trải qua lệ bảo kết và một kỳ thi khảo hạch. Lệ bảo kết và thi khảo hạch là để xét duyệt bước đầu những thí sinh có đủ phẩm hạnh và năng lực như một điều kiện bắt buộc. Trước khi thi hương các xã quan và huyện quan phải lập danh sách, xét duyệt lý lịch những người ứng thi gọi là bảo kết. Sau khi qua lệ bảo kết, thí sinh phải qua một kỳ thi khảo hạch tức là tuyển loại những người có đủ trình độ kiến thức tối thiểu để dự thi.

Danh hiệu cho người thi cử đỗ đạt: Những người đỗ trong cả 4 kỳ thi hương gọi chung là Hương cống hoặc cử nhân và được dự thi hội; bậc thấp hơn gọi là sinh đồ hay đỗ tú tài.

Những người đỗ 4 kỳ thi hội được cấp bằng tiến sĩ là danh hiệu cao nhất giành cho một thí sinh tham gia khoa cử. Thi đình chỉ là xếp loại các tiến sĩ đã đỗ ở kỳ thi hội theo các bậc sau đây: một là, Tiến sĩ cập đệ đệ nhất giáp đệ nhất danh (tức Trạng nguyên); hai là, Tiến sĩ cập đệ đệ nhất giáp đệ nhị danh (tức Bảng nhãn); ba là, Tiến sĩ cập đệ đệ nhất giáp đệ tam danh (tức Thám hoa); bốn là, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (tức Hoàng giáp); năm là, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Ba bậc đầu gọi là Tam khôi.

Với cách làm và sự thành công của thời Lê Thánh Tông về đào tạo quan lại có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của dân tộc ta thế kỷ XV, đồng thời để lại những bài học kinh nghiệm cho các thế hệ sau học tập, vận dụng. Đó là những giá trị tinh thần quý báu mà chúng ta cần phát huy, khai thác trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

Từ khi thành lập, Đảng ta luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, coi đó là “nhân tố quyết định mọi thành bại của cách mạng” - trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cũng như trong giai đoạn đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, công tác cán bộ càng trở nên quan trọng, là “khâu then chốt” của công tác xây dựng Đảng. Bên cạnh những kết quả to lớn đã đạt được, đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được đòi hỏi của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu những kinh nghiệm của ông cha ta trong việc đào tạo, sử dụng đội ngũ quan lại phục vụ cho việc xây dựng và vận hành của nền chính trị truyền thống Việt Nam, trên cơ sở đó để học tập và vận dụng vào việc xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước ta có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn./.

Các từ khóa theo tin:

Đặng Duy Thìn (CTV)

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Liên hoan ẩm thực miền Trung - Huế 2012 (02/07/2012)
Phố Hàng Giấy - Một phố nghề xưa ở đất Thăng Long (19/07/2011)
Thăng Long - Hà Nội thời Tây Sơn (1788 - 1802) (20/09/2010)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Nhà Thục (257- 208 trCN) 50 năm, quốc hiệu Âu Lạc, kinh đô Phong Khê (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội) (Phần II) (20/10/2009)
Phong kiến phương Bắc đô hộ lần thứ nhất (207 trCN-39) – Nhà Triệu (207 – 111 trCN) 97 năm, quốc hiệu Nam Việt, kinh đô Phiên Ngung (gần Quảng Châu, Trung Quốc) (Phần III) (20/10/2009)
Truyền thuyết Kinh Dương Vương họ Hồng Bàng - Lạc Long Quân (Phần I) (20/10/2009)
Thử nhận xét về An Nam Đại quốc họa đồ*** (03/10/2009)
Võ Nhất Nam với sự tích ngày giỗ Tổ mùng 5 Tết (09/02/2008)
Tình cây và đất (03/02/2008)
Kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Nguyễn Đức Cảnh (2-2-1908 - 2-2-2008)


Nguyễn Đức Cảnh người con của giai cấp công nhân Việt Nam (01/02/2008)
Những ánh hào quang rực rỡ sắc xuân (01/02/2008)
Ðình cổ Sùng Văn (16/01/2008)
225 năm ngày sinh Phan Huy Chú (1782 - 2007): Một tấm gương sáng, một tài năng kiệt xuất (15/11/2007)
 Trang 1 / 6 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Xác minh thông tin "Trứng gà bóp không vỡ, đốt cháy khét xuất hiện ở Hà Nội"
· Mãi xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của giai cấp công nhân và người lao động
· Nhiều tỉnh, thành phố có mưa dông, Nam biển Đông đề phòng lốc xoáy và gió giật mạnh
· Xung đột ở Gaza: Đẫm máu dân thường
· Giá xăng giảm tối thiểu 325 đồng/lít từ 14 giờ ngày 28/7
· Chương trình "Màu hoa đỏ" trao quà tại huyện Xín Mần, Hà Giang
· Bộ Tư pháp “tuýt còi” văn bản cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn Hà Nội
· Đề nghị Bộ Tài chính xử lý 2 Thông tư có nội dung chưa bảo đảm tính hợp pháp
· Phòng chống tiêu chảy cấp trong cộng đồng
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet