Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 21 tháng 10 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Đặc điểm và tiềm năng kinh tế xã hội
15:21 | 10/10/2006
Tiềm năng về quĩ đất
Với gần 139,9 ngàn ha đất các loại, trong đó có diện tích đất nông nghiệp có trên 64,4 ngàn.ha đất; đất lâm nghiệp gần 14,7 ngàn.ha; đất chuyên dùng trên 15,4 ngàn. ha; đất sông suối 2,1 ngàn.ha; núi đá trên 21,1 ngàn.ha; đất và mặt nước chưa sử dụng trên 46,1 ngàn.ha. Trong diện tích đất nông nghiệp nói trên, đất trồng cây hàng năm có gần 54 ngàn.ha, đất trồng cây lâu năm gần 1,4 ngàn.ha đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi trên 1,9 ngàn.ha, diện tích mặt nước các loại dùng vào sản xuất nông nghiệp (nuôi trồng thuỷ sản) có trên 2,7 ngàn.ha.
Ninh Bình có 3 vùng sinh thái khá rõ rệt:
• Vùng đồi núi: gồm các huyện Nho Quan, TX Tam Điệp, một phần huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô.
• Vùng đồng bằng trũng chua phèn xen kẽ đá vôi thuộc các huyện Gia Viễn, Yên Mô và Nho Quan.
• Vùng đồng bằng ven sông Đáy và vùng ven biển huyện Kim Sơn.
Như vậy, Ninh Bình có điều kiện phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, phát huy lợi thế của từng vùng với các sản phẩm nông nghiệp phong phú và có giá trị kinh tế cao:
Các huyện Kim Sơn, Yên Khánh, Yên Mô và phần lớn huyện Hoa Lư có lợi thế về trồng lúa, rau đậu các loại, chăn thả, nuôi trồng các loại thuỷ, hải sản có giá trị như Tôm sú, cua rèm, cá bớp, ngao, vọp,... trồng cói gắn với chế biến phục vụ xuất khẩu; các huyện Nho Quan, Gia Viễn, thị xã Tam Điệp ngoài trồng lúa, lại có thế mạnh về trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng rừng, khoanh nuôi dê trên núi đá vôi; chăn nuôi các loại gia súc, nuôi cá lồng trên các ao hồ kênh rạch.
Đất có khả năng mở rộng thêm cho sản xuất nông nghiệp khoảng từ 1 đến 2 vạn ha, trong đó diện tích do lấn biển khoảng 5 - 6 ngàn.ha.
Theo chiến lược tổng thể sử dụng quĩ đất của Ninh Bình thì sau khi phải dành những phần đất bắt buộc cho phát triển đô thị, đất thổ cư, đường giao thông, thuỷ lợi... thì khả năng đất dành cho phát triển nông nghiệp còn khoảng 6,5 vạn ha. Sau khi cân đối đảm bảo sản xuất đủ lương thực, vẫn có thể dành gần 2 vạn ha để trồng các loại cây khác có hiệu quả hơn; trong đó coi trọng các loại cây công nghiệp và cây ăn quả trọng yếu như mía, chè, lạc, đậu tương, cói, dứa, chuối.
Riêng cây chè và dứa, Ninh Bình có khả năng trồng trên diện tích khoảng 4 ngàn.ha, trong đó 1,5 ngàn.ha thích hợp hơn với cây chè, 2,5 ngàn.ha có thể trồng cây dứa hoặc chè. Ngoài ra có thể phát triển mạnh cây lạc, đậu tương, mía để phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa, cung cấp một phần cho các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hoá và xuất khẩu.
Phát triển mạnh chăn nuôi, hướng về phục vụ các thành phố và khu công nghiệp trong vùng, trong đó chăn nuôi gà, vịt thời vụ, lợn, bò, dê giữ vị trí then chốt; đồng thời khuyến khích chăn nuôi các con đặc sản xuất khẩu (kể cả hươu sao). Riêng chăn nuôi lợn và gà, khả năng Ninh Bình có thể sản xuất hàng năm vào khoảng trên 1 vạn tấn gà công nghiệp phục vụ xuất khẩu và 1 ngàn tấn thịt đông lạnh xuất khẩu vào năm 2000, vài ngàn tấn vào năm 2010.
Cùng với phát triển nuôi thuỷ sản nước ngọt, Ninh Bình có thế mạnh phát triển nuôi thuỷ sản nước lợ (vùng cửa sông Đáy), đánh bắt hải sản và chế biến, trên cơ sở tận dụng trên 8 ngàn ha mặt nước ao, hồ, đầm để nuôi cá và nuôi cá lồng ở các sông có điều kiện, hơn 1 ngàn ha diện tích nước lợ để nuôi tôm xuất khẩu.
Tài nguyên khoáng sản
Nguồn khoáng sản lớn nhất là đá vôi. Dãy núi đá vôi chạy từ Hoà Bình qua huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, thị xã Tam Điệp, Yên Mô, nhô ra biển nơi tiếp giáp giữa huyện Kim Sơn của Ninh Bình với huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá, dài hàng chục km, nằm trên diện tích 1,2 vạn ha đất tự nhiên của tỉnh, cho trữ lượng hàng chục tỉ m3 đá vôi chất lượng cao (hàm lượng cao: 51-55%) và hàng chục triệu tấn đôlômít (hàm lượng Mgo: 17-19%) làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là xi măng và một số hoá chất. Vùng ven đồi núi thấp của thị xã Tam Điệp, huyện Gia Viễn, huyện Yên Mô có tầng đất sét khá dày với trữ lượng đảm bảo cho xây dựng các nhà máy sản xuất gạch công suất 20-50 triệu viên/năm khai thác ổn định trong vòng hàng chục năm. Ngoài ra ở huyện Nho Quan còn có mỏ bô xít, than bùn với trữ lượng nhỏ, có mỏ đất sét làm phụ gia sản xuất xi măng. Thuận lợi cơ bản là dãy núi đá vôi có nhiều điểm gần các trục đường giao thông huyết mạch: quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam, một số đường liên tỉnh, đường sông... rất tiện lợi cho việc khai thác, tiêu thụ sản phẩm...
Các điều kiện về cơ sở hạ tầng, dịch vụ của Ninh Bình rất đa dạng, phong phú, với nhiều tiềm năng thuận tiện cho giao lưu, phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội.
Ninh Bình nằm gần các nguồn năng lượng lớn của quốc gia ở miền Bắc: gần vùng than Quảng Ninh với trữ lượng lớn, gần thuỷ điện Hoà Bình, nhiệt điện Phả Lại và tương lai là thuỷ điện Sơn La, nhiệt điện Quảng Ninh có công suất lớn... Ngay trên địa bàn của tỉnh đã có nhà máy nhiệt điện Ninh Bình (công suất 10 vạn KW). Trên cơ sở đó Ninh Bình sẽ được đáp ứng thoả mãn nhu cầu về than và điện cho sản xuất cũng như nhu cầu của dân sinh.
Hệ thống đường giao thông trong tỉnh có đủ cả đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, đường biển. Tuyến đường bộ có 2530 km và trên 20 km đường sắt, trong đó có 2 trục đường ô tô (quốc lộ 1A) và đường sắt chạy xuyên suốt Bắc Nam đều qua đây; ngoài ra còn có trục quốc lộ 10A nối sang Nam Hà, Thái Bình đi các tỉnh vùng Đông Bắc; quốc lộ 12A, 59A đi Hoà Bình và các tỉnh vùng Tây Bắc; quốc lộ 10 đến Kim Sơn sang huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá. Tuyến đường thuỷ có 311 km đường sông và 185 km kênh rạch, trong đó có 90 km sông Đáy chảy qua địa phận của tỉnh và đổ ra biển ở cửa Đáy (huyện Kim Sơn) tạo điều kiện cho Ninh Bình phát triển cảng sông với trữ lượng hàng hoá thông qua cỡ từ 1-2 triệu tấn/năm; Ninh Bình còn có 18 km bờ biển.
Hệ thống đường giao thông đa dạng, phong phú, khá hoàn chỉnh từ bắc xuống nam, từ đông sang tây rất thuận tiện cho giao lưu, thông thương vào Nam ra Bắc, cho thăm quan du lịch các di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam thắng cảnh trong tỉnh; thuận tiện cho trao đổi kinh tế, mở mang văn hoá giữa các vùng trong tỉnh. Hệ thống đường giao thông thuận lợi đã tạo cho Ninh Bình thành cầu nối giao lưu kinh tế - văn hoá giữa hai miền Nam - Bắc, giữa các tỉnh, giữa các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước và giao lưu với quốc tế.
Mạng lưới thông tin liên lạc đã phủ kín các vùng trong tỉnh với hệ thống tổng đài điện tử số hiện đại của bưu điện trung tâm tỉnh và bưu điện của 7 huyện thị xã, hệ thống thông tin viễn thông vi ba, cáp quang Bắc - Nam chạy qua đảm bảo cho liên lạc nhanh chóng, thuận tiện giữa Ninh Bình với các địa phương, các vùng trong nước và liên lạc quốc tế.
Ninh Bình là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, cả tiềm năng về sự kỳ thú của thiên nhiên với nhiều danh lam thắng cảnh phong phú, đa dạng và nổi tiếng như Tam Cốc - Bích Động, Địch Lộng, Vườn quốc gia Cúc Phương, suối nước nóng Kênh Gà..., cả tiềm năng độc đáo về lịch sử và nhân văn như Cố đô Hoa Lư, quần thể nhà thờ đá Phát Diệm, chùa Non Nước, phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn v.v... Nếu biết kết hợp với các danh lam, thắng cảnh, công trình văn hoá của các tỉnh đồng bằng sông Hồng (nhất là Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Nam Hà) và của miền núi Bắc Bộ và Trung Bộ, Ninh Bình sẽ có được những tuyến du lịch hết sức hấp dẫn, và trở thành địa bàn du lịch có vị trí quan trọng vào loại hàng đầu của vùng Bắc Bộ cũng như của cả nước.
Với vị trí địa lý thuận lợi, với điều kiện tự nhiên phong phú, các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp v.v... đang trên đà phát triển đã đem đến cho hoạt động thương mại - dịch vụ của Ninh Bình khá sôi động, nhộn nhịn, hàng hoá lưu thông thuận tiện, dịch vụ đáp ứng kịp thời cho nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân.
Các cơ sở dịch vụ về tài chính, ngân hàng của Ninh Bình bao gồm hệ thống ngân hàng nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh, hệ thống kho bạc từ tỉnh đến các huyện, thị xã, công ty bảo hiểm, các quỹ tín dụng nhân dân. .. thường xuyên cải tiến nghiệp vụ chuyên môn và phong cách phục vụ, tăng cường trang bị kĩ thuật hiện đại, thực hiện vi tính hoá trong quản lý và thanh toán v.v... đang ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu về vốn cho sản xuất - kinh doanh, đáp ứng tốt hơn các công tác thanh toán, trao đổi hàng hoá - dịch vụ; phục vụ kịp thời cho công tác lãnh đạo, quản lý của các cấp, các ngành; góp phần tích cực cho phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân trong tỉnh.
Hiện nay Ninh Bình có trên 410 ngàn người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, chiếm 47% so với tổng dân số. Trong cấu trúc dân số của tỉnh (số liệu 1/4/1989) nhóm dân số từ 49 tuổi trở xuống chiếm 84,59%, dân số dưới 30 tuổi chiếm 65,17%, số người từ 15 đến 44 tuổi chiếm 41,66%, như vậy cấu trúc dân số của Ninh Bình là cấu trúc dân số trẻ. Hàng năm có trên 12 ngàn học sinh phổ thông và hàng ngàn học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các trường dạy nghề tốt nghiệp ra trường.
Tính đến 31/12/1994 có 364,6 ngàn lao động đang làm việc trong các ngành của nền kinh tế quốc dân trong tỉnh, trong đó: Làm việc trong ngành nông lâm, thuỷ sản là 293,9 ngàn người; trong ngành công nghiệp là 31,3 ngàn người; trong ngành xây dựng là 4,9 ngàn người; trong ngành thương nghiệp dịch vụ là 9,3 ngàn người; trong ngành vận tải - bưu điện là 7,9 ngàn người; trong ngành Tài chính - tín dụng là 2 ngàn người; lao động trong khu vực hành chính - sự nghiệp, đảng, đoàn thể là 17,1 ngàn người. Trong lực lượng lao động của tỉnh hiện có 10 người có trình độ phó tiến sĩ, 7014 cán bộ có trình độ cao đẳng và đại học, 15.258 người có trình độ trung học chuyên nghiệp và 12.923 công nhân kĩ thuật. Nguồn lao động của Ninh Bình khá đông đảo, được đào tạo cơ bản; ngày càng được bổ sung lực lượng lao động trẻ có kiến thức văn hoá và trình độ chuyên môn, có khả năng tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội trên địa bàn của tỉnh.Người dân Ninh Bình có nhiều ngành nghề truyền thống nổi tiếng như thêu ren, sản xuất các sản phẩm cói, chế tác đá mỹ nghệ. Nếu có chính sách khuyến khích thích hợp và được tổ chức tốt, đầu tư phát triển sản xuất thì những ngành này có thể đưem lại nguồn thu lớn và thu hút một khối lượng lao động đáng kể trên địa bàn.
Ninh Bình là vùng đất giàu truyền thống văn hoá và lịch sử. Trong vườn Quốc gia Cúc Phương đã tìm thấy dấu vết của "Động người xưa" cách đây trên 7000 năm. Đây cũng là vùng đất tiếp nhận cả nền văn minh Đông Sơn và văn minh Đại Việt. Từ thế kỷ 10, Đinh Tiên Hoàng đã có công dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước và lập ra nước Đại Việt. Trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước, Ninh Bình là một trong những tỉnh có phong trào cách mạng sớm. Người dân Ninh Bình có truyền thống hiếu học và cần cù lao động.
Làng Nghề
Thêu ren Ninh Hải

Xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư nổi tiếng khắp nước về nghề thêu ren, nhiều người cho rằng đây là “Vương quốc của thêu ren”. Tương truyền, từ năm 1285, khi vua Trần Thái Tông tròn 40 tuổi, nhường ngôi cho con lên làm Thái Thượng Hoàng đã về vùng núi Vũ Lâm tu hành (xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư) và lập căn cứ chỉ đạo cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285). Bà Trần Thị Dung là vợ Thái sư Trần Thủ Độ theo triều đình nhà Trần về đây đã truyền dạy cho nhân dân thôn Văn Lâm nghề thêu ren. Như thế, nghề này đã có trên 700 năm.
Ở xã Ninh Hải hiện nay, gia đình nào cũng có nhiều loại khung thêu, có khung to bằng cả chiếc chiếu nằm, có khung nhỏ chỉ bằng bàn tay. Bằng những sợi chỉ mảnh mai, cùng những miếng vải rộng, hẹp, đủ mọi mầu sắc, với đôi bàn tay vàng, người thêu ren đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật. Đường nét thêu ren rất tinh xảo, uyển chuyển, mềm mại, thanh tú, nhưng lại sống động, mịn màng như những nét vẽ. Sản phẩm thêu ren rất phong phú như: ga trải giường, rèm cửa, gối, khăn bàn, khăn tay, tranh, ảnh....
Mỹ nghệ cói Kim Sơn
Cây cói xuất hiện ở Kim Sơn mới gần 2 thế kỷ nhưng đã có một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế của huyện. Người dân Kim Sơn đã dùng cây cói làm nhiều sản phẩm như: chiếu, thảm, làn, khay, hộp, đĩa, cốc, tách, túi xách, mũ....
Đặc biệt, khi nói đến nghề mỹ nghệ cói cở Kim Sơn phải nói đến nghề dệt chiếu. Dệt chiếu là cả một quá trình lao động sáng tạo, vất vả, thận trọng từ khâu chọn cói, phơi cói, nhuộm cói sao cho đỏ tươi và bền mầu, sợi đay dệt phải nhỏ và bền, đến khâu đan dệt cải hoa của chiếu. Người cải hoa phải nhanh, uyển chuyển, mềm mại, mắt phải tinh, tay phải chính xác, thuộc từng nét cải để không đan lỗi. Người tạo cói phải nhanh, đặc biệt là phải nhịp nhàng theo người dệt. Sự hài hoà, ăn ý giữa người lao cói và dệt chiếu phải cẩn thận, trau chuốt, tỷ mỉ.
Chạm khắc đá Ninh Vân
Nói đến xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, nhân dân cả nước đều biết đến nghề cổ truyền chạm khắc đá. Là một nghề kỹ thuật và mỹ thuật, từ những hòn đá sù sì, qua bàn tay của người thợ đã thành những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo. Sản phẩm đá gồm các loại: tượng, chim thú, bể cảnh, bia, thống, chậu hoa, bàn, ghế, sập, hương án, ngai, cầu, cổng, ngưỡng cửa, xà nhà.... Ngoài ra còn có các mặt hàng thủ công mỹ nghệ và những đồ vật bằng đá như: bộ ấm trà, gạt tàn thuốc lá, khóm trúc, bé cưỡi trâu, đĩa, bát, tranh ảnh.... Tất cả đều được chạm khắc tinh tế, sống động, đường nét tao nhã, uyển chuyển, mềm mại, dường như có phép lạ ở đôi bàn tay và khối óc của các nghệ nhân.

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Xã Gia Phú đón nhận Bằng di tích lịch sử cấp tỉnh (31/03/2008)
Triển khai kế hoạch tổ chức Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư (17/03/2008)
Quần thể xuyên thuỷ động Tràng An - nét độc đáo hiếm có (14/03/2008)
Các hạng mục công trình Khu du lịch Tràng An đang được đẩy nhanh tiến độ (14/03/2008)
Tràng An - Một bức tranh xuân (09/02/2008)
Thung Nham - Nơi đất lành chim đậu (05/02/2008)
Về Ninh Bình thăm cố đô Hoa Lư (12/09/2007)
Xoá nghèo ở vùng quê biển (28/08/2007)
Phát hiện sắc phong thời Tây Sơn ở đền Núi Hầu (15/08/2007)
Yên Mô làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ (17/07/2007)
 Trang 1 / 3 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Đặc điểm tự nhiên và KT- XH tỉnh Ninh Bình (10/10/2006)
Ninh Bình: Giá trị hàng hóa xuất khẩu tăng hơn 24% (10/10/2006)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Chính phủ trình Dự án Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
· Hơn 12 tỷ đồng ủng hộ chương trình "Chung tay vì sức khỏe phụ nữ Việt Nam"
· Cơ quan thẩm tra nhất trí với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông
· Tân Tổng thống J.Widodo đánh giá cao quan hệ Indonesia - Việt Nam
· Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp cựu Tổng thống Hàn Quốc Li Miêng Bắc
· Chiều nay khí lạnh về gây mưa nhiều nơi cho khu vực Bắc Bộ
· Thông cáo số 1 kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII
· Điều chỉnh tốc độ tối đa cho phép của 3 tuyến cao tốc
· Việt Nam và Phần Lan ký kết Hiệp định vận chuyển Hàng không
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet