Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 21 tháng 9 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
19:50 | 25/11/2005
Hai Bà là con gái Lạc Tướng huyện Mê Linh, hậu duệ đời thứ 25 của Vua Hùng- họ Lạc. Thân mẫu của Hai Bà tên là Trần Thị Đoan (tục danh là bà Man Thiện), có nghề trồng dâu, nuôi tằm, kéo tơ.
Ngày 01 tháng 8 năm Giáp Tuất (14.CN) bà Man Thiện sinh một lần được hai con gái. Vì là nhà tằm tơ, nên 3 năm sau, mới đặt tên cho cô chị là Trắc (lứa đầu - ''lứa chắc'' theo cách tính của nhà nuôi tằm), cô em là Nhị (''lứa nhì''- lần thứ hai)
Năm 19 tuổi, cha mẹ gả cô chị là Trắc, lấy con trai quan Lạc tướng huyện Chu Diên là Thi Sách tức là năm Canh Thìn (32. CN). Vợ chồng đoàn tụ mới được vài năm thì Thi Sách bị Tô Định giết chỉ vì con hai nhà tướng kết hôn với nhau, trở thành một lực lượng lớn, không có nơi cho sự thống trị của nhà Hán.
Căm giận quân giặc bạo ngược, vì nợ nước nay lại thêm mối thù nhà, bà Trắc đã cùng với em là Nhị phát động trong toàn quận Giao Chỉ, tập hợp các Lạc hầu, Lạc tướng, kêu gọi quân sĩ và nhân dân nổi lên cùng đánh giặc. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam được tin quận Giao Chỉ khởi nghĩa đều nổi lên hưởng ứng.
Cuộc khởi nghĩa ấy chia ra các giai đoạn như sau:
I- THỜI KỲ TRƯỚC NGÀY TUYÊN BỐ KHỞI NGHĨA:
Sau khi ông Thi Sách bị giết, bà Trắc quyết chí phục thù trả oán. Bà tiến hành tổ chức chứa tích lương thực, vận động thu dùng các anh hùng hào kiệt trung thiên hạ, những người cùng chí hướng, chiêu binh tuyển tướng ở các địa phương, nên người theo về ngày một đông. Lúc đó thuộc địa bàn Sơn Tây cũ có:
Liên Chiểu được một người
Phù Sa được một người (sau đổi 1à Phần Sa, rồi Các Sa- xã Trung Kiên huyện Vĩnh Tường)
Huyện Bạch Hạc có:
- Xã Văn Trưng được 1 người (nay là thôn Văn Trưng xã Tứ Trưng huyện Vĩnh Tường)
- Xã Đại Tự được 1 người (nay thuộc huyện Yên Lạc).
- Xã Cẩm Viên được 1 người (nay là thôn thuộc xã Đại Tự)
- Xã Phủ Yên được l người (nay là thôn thuộc xã Yên Lập huyện Vĩnh Tường)
Huyện Yên Lạc có:
Xã Bình Lỗ được l người (có lẽ 1à Tề Lỗ huyện Yên Lạc)
- Xã Mạnh Lân được một người (sau là Kim Lân xã Hồng Châu)
- Xã Thọ Lão được một người (nay thuộc xã Tiến Thịnh huyện Mê Linh)
- Xã Yên Lão được một người (nay thuộc xã Tiến Thịnh huyện Mê Linh)
- Xã Vân Canh được 1 người (nay thuộc vào thị trấn huyện Bình Xuyên)
Huyện Lập Thạch có:
- Xã Vân Nhưng được 3 người (nay thuộc xã Tân Lập)
- Xã Ân Hộ được 3 người (tục danh làng Họ, nay thuộc xã Tham Sơn)
- Xã Vụ Cầu được 1 người (tục danh làng Cầu, nay thuộc xã Tam Sơn)
Tỉnh Hà Tây có 3 huyện có người ứng nghĩa:
Huyện Tiên Phong có:
Xã Kim Bí được l người
- Xã Tân Hoa được 1 người
Huyện Yên Sơn có:
- Xã Bối Khê được 1 người
- Xã Hữu Quang được 1 người
Huyện Thạch Thất có:
- Xã Tuy Lộc được l người
Để đảm nhận công việc trọng đại ấy, bà Nhị được chị gái cất nhắc làm chức ''Bình khôi'' sau khởi nghĩa phong làm ''Bình khôi công chúa''- tức là vị công chúa đứng đầu thu phục thiên hạ). Rồi gửi tờ hịch chiêu dụ mọi người trong toàn quận Giao Chỉ, bởi vậy các nướng, nữ quân chiếm đa phần trong tổng số lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa.
Nhiều thư tịch đời sau chép về khí thế ra quân của những ngày ấy mà sự tích hầu hết đã trở thành huyền thoại: ''Đương thời nam nhi thao lược vị hữu kỳ nhân; Nữ tướng soái binh thần linh phát động''. Nghĩa là: Lúc ấy nam nhi tài giỏi chưa có mấy người; Nữ tướng soái binh như có thần thiêng thúc giục. Bởi vậy, chỉ 15 ngày sau tướng sĩ mọi miền đã tìm đến tụ nghĩa. Đồng thời bà Trắc đã đến nhiều địa phương vận động khởi nghĩa. Nơi ấy ngày nay đều có di tích thờ cúng ghi nhận. Bà cũng đã vận động lên miền thượng lưu sông Đáy, giáp gianh giữa 2 huyện Tam Dương - Lập Thạch ngày nay tập hợp lực lượng. Nơi bà hội quân với các bà Quý Lan (An Bình phu nhân) và Ngọc Kinh công chúa là di tích ''Bãi Hội'' ở làng Đông Định, xã Thái Hoà, Lập Thạch. Nơi ấy nay có đền thờ Bà tạo thành một vùng căn cứ rộng lớn ở các xã Liễn Sơn, Thái Hoà, Liên Hoà, Hợp Lý huyện Lập Thạch và các xã Hoàng Hoa, Đồng Tình, An Hoà huyện Tam Dương.
Các di tích trong khu vực sông Đáy.
1- Xã Liên Hoà huyện Lập Thạch (bờ phải sông): 1 di tích
2- Xã Liễn Sơn huyện Lập Thạch (bờ phải sông): 2 di tích
3- Xã Thái Hoà huyện Lập Thạch (bờ phải sông): 3 di tích
4- Xã Bồ Lý huyện Lập Thạch (Vực Truông): 1 di tích
5- Xã Hợp Lý huyện Lập Thạch (bờ trái sông): 1 di tích
6- Xã An Hoà huyện Tam Dương (bờ trái sông): 3 di tích
7- Xã Đồng ranh huyện Tam Dương (bờ trái sông): 6 di tích
8- Xã Hoàng Hoa huyện Tam Dương (bờ trái sông): 2 di tích Cộng
xã: 19 di tích
Tháng Giêng năm Canh Tý (40CN), tất cả các tướng ở mọi vùng đều đã tiến quân về họp lại ở thành Phong Châu sông Bạch Hạc để khao thưởng các quân sĩ.
II- KHỞI NGHĨA Ở CỬA SÔNG HÁT
Sau cuộc tổng tập hợp quân đội ở Phong Châu, Hai Bà đã cho quân đội vượt sông sang lập đàn thề ở bãi cát dài cửa sông Hát.
Nơi ấy nay thuộc xã Hát Môn huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây. Địa điểm cách đê hữu sông Hồng 6km, gần chỗ cửa Hát tách ra từ sông Hồng. Tại Hát Môn, Hai Bà cho quân sĩ dựng đàn tế cáo trời đất, tuyên bố khởi nghĩa. Lời tuyên như sau:
''Trời sinh một người làm tông chủ của vạn vật trong trời đất. Muôn vật ràng buộc vào đấy, cỏ cây quan hệ về đấy. Trải các triều trước các vị đương thiên tử đều là bậc thánh minh, khiến cho triều đình có đạo Yên dân lo việc nước, đức hoá mở mang, thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Nay có người hơ khác tên là Tô Định, lòng dạ chớ dê, hăm doạ 4 phương, tham tàn bạo ngược, trời, đất, thần, người đều căm giận.
Thiếp là cháu gái của Vua Hùng thuở trước, hôm nay đau lòng thương dân vô tội, dấy nghĩa trừ tàn nguyện xin các vị thần linh hội họp tại đàn này chứng giám và phù hộ cho thiếp. Thiếp là Trưng Nữ dấy binh dẹp giặc, che chở dân lành, thú phục lại muôn vật cũ của tổ tông. Không phụ ý trời, thoả nguyện nơi đền miếu của các bậc đương các đời, không phụ sự trông đợi của tổ phụ nơi chín suối''
Tế xong, Hai Bà phân chia các đạo quân, tổ chức quân ngũ. Riêng số các nữ tướng, nữ binh chia làm 2 đội, phong cho các chức:
1- Lão Tiên công chúa nắng giữ ''Trung quân nội thị''
2 - Công chúa Cẩn Hạnh nắm giữ ''Tiền quân nội thị'' có 500 quân
3- Công chúa Huệ Đức và Công chúa Trang ranh nắm giữ quân ''nội thị binh nhung''
4- Công chúa Ả Chàng, Ả Chạ (vì Lê Ngọc Thanh cùng danh hiệu) nắm giữ "Tả quân nội thị", quân nữ có 500 người
5- Thuỵ công chúa và công chúa Minh Trinh nắm giữ ''Hữu quân nội thị''. Quân nữ có 500 người
6 - Công chúa Minh Nương nắm giữ tiền quân - quân nữ có 100 người
7 - Công chúa Tráng Cẩn nắm giữ ''Tả quân nội thị''. Quân nữ có 100 người
8- Công chúa Bình Khôi (tức bà Nhị) nắm giữ toàn bộ các vệ ''Nữ quân nội thị...
Còn các tướng nam đều cớ phong chức thu nạp tham gia khởi nghĩa.
Sau đó bà Trắc cùng các tướng sĩ bái lạy trời đất, thống lĩnh quân dân, tiến quân về thành Long Biên đánh Tô Định.
III- CUỘC TIÊN QUÂN MÙA XUÂN NĂM CANH TÝ (42.CN) ĐẠI THẮNG:
Trên đường tiến quân, Hai Bà dẫn toàn bộ quân đội về làng Hạ Lôi dựng đồn đóng quân.
Đêm đó ở Hạ Lôi, (tên thời nội thuộc Hán là Kỳ Họp) có hơn 10 vị tướng dưới quyền được chọn làm tướng ''thủ túc'' (thân cận, gần gũi như tay chăn), và có 17 nữ tướng có tài trí ngày đêm thường trực ở bên cạnh Trưng Vương. Ngày 07 tháng Giêng, bà Trưng mở tiệc lớn khao quân ở Hạ Lôi 10 ngày, rồi chia quân làm 5 đạo.
- Đi tiên phong là Đại Vương Đông Hối
- Trung quân là Nữ Vương Trưng Trắc (ở giữa)
- Tả quân là Minh công dực thánh (?) (bên trái)
- Hữu quân là Lương công dực thánh (?) (bên phải)
Hậu quân là Hiến công (?) và Nhị nương công chúa
Tất cả cùng tiến về thành Long Biên đánh Tô Định. Cảnh tượng ngày xuất quân thật oai hùng: ''Cờ xí đầy đất, chiêng trống vang trời, tướng nam lẫm liệt, tướng nữ lạnh lùng''. Trước sức mạnh như vũ bão của đội quân Hai Bà, quân Hán không kịp tổ chức nghênh chiến, chống đỡ, nên khi quân đội của Hai Bà tấn công, quân của Tô Định chỉ còn biết thua chạy và bị giết ''máu chảy thành ao, xương tụ thành gò'', xác giặc chồng chất làm cho ''dựng sông nghẽn chảy'', Tô Định bị đao chém sát thương. Cuối cùng thì Tô Định nhanh chóng rút chạy về Trung Quốc, chịu tội với triều đình nhà Hán. Chẳng bao lâu, trong toàn quận Giao Chỉ, nghĩa quân tổng công kích, thu phục được 65 thành.
IV VƯƠNG TRIỀU HỌ TRUNG.
''Đại Việt sử ký toàn thư" chép là ''Trưng Nữ Vương Kỷ''
Đất nước giải phóng, Hai Bà thu quân về thành Phong Châu. Bà Trưng Trắc lên ngôi Vương, đứng đầu bộ máy nhà nước độc lập tự chủ. Tiến hành phong thưởng thứ bậc công thần cho các tướng sĩ. Cắt cử một số tướng sĩ trở về nơi căn cứ cũ của mình xây dựng doanh điện phòng vệ làm hậu cứ cho triều đình.
Ở trung ương, xây dựng bộ máy nhà nước vương triều gồm có 2 ban ''văn- võ''. Tất cả đều có chữ ''tiết ché' (nghĩa là ''chỉ huyết), đặt quan chia chức đảm nhận công việc Nhà nước. Lại xây dựng 1 ''Sở hành cung'' ở xứ đầu voi làng Hạ Lôi làm nơi ''Sở thiết triều'' (nơi bàn việc nước lưu động). Phía sau xây thành bảo vệ, đời sau gọi là ''thành ống''. Đồng thời bà Trưng Nhị dựng hai luỹ ở Cư An, đắp thành Đền, tất cả đều nằm ở phía Tây Bắc ''hành cung'' Hạ Lôi trưng sự bố phòng bảo vệ.
Sau đó, bà Trưng Trắc đời đô về Hạ Lôi, định trị sở việc nước chính thức là ''hành cung'' xứ đầu voi. Nay là đền Hai Bà. Đất ấy đời Hán là làng Kỳ Hợp huyện Chu Diên. Từ đó chính trị ổn định, việc nước trong sáng êm đềm, lòng dân theo phục.
V- CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MÃ VIỆN NĂM 42.CN.
Năm 41.CN, vua Hán Quang Vũ được tin triều đình Lĩnh Nam đã được xác lập, dơ Bà Trưng Trắc làm tôn quân, nên tức tốc hạ lệnh cho các quận, châu, huyện phía nam là Trường Sa, Hợp Phố và một số nơi thuộc Giao Chỉ sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, mở đường thông các núi khe, chứa thóc lương để dự phòng cho cuộc xâm lăng sắp tới Ngay sau đó, Hán Quang Vũ lại sai Tô Định dẫn 5 vạn quân đi trước trở lại Giao Chỉ. Mã Viện vui mừng được Hán Vũ Đế cử làm Phục Ba tướng quân, cho tổng chỉ huy cùng với phó tướng là Phù Lạc Hầu Lưu Long, đốc xuất bọn Lâu thuyền tướng quân đem 30 vạn quân tiến vào nước ta để đánh Trưng Vương.
Quân Hán qua cửa ải Ngọc Quang
1- Cuộc Chiến ở thành Lạng Sơn
Được tin bái về, ở thành Hạ Lôi, Trưng Trắc cử trưng Nhị và hai đại tướng đem quân lên đánh chặn giặc, giết chết được Tô Định ngay từ trận đầu giao chiến. Thấy tình thế thất lợi, sau khi qua ải Ngọc Quan, Mã Viện và Lưu Long dẫn quân đến thành Lạng Sơn lập doanh luỹ cố thủ thanh thế rất to.
Để chặn đánh quân địch từ ngoài biên ải, Trưng Trắc dẫn toàn bộ đại quân lên thành Lạng Sơn cự chiến Mã Viện là viên tướng già (lúc này Viện đã ngoài 70 tuổi) giảo quyệt, biết trưng Trắc đã đem hết quân đội lên đánh thành Lạng Sơn nên ra lệnh cho quân sĩ cố ý trì hoãn, kéo dài thời gian tiếp chiến, khiến đại quân của Hai Bà Trưng gặp bất lợi. Mã Viện chơ Lưu Lang coi giữ 25 vạn quân ở lại cố thủ thành Lạng Sơn, cầm chân quân đội của Hai Bà Trưng dưới thành, bố phòng ở những nơi hiểm trọng, không chịu ra đánh. Đại quân của Hai Bà do vậy phải kìm lại vây thành.
2- Âm mua của Mã Viện
Trong khi tình thế chiến trận kéo dài im ắng, thì Mã Viện dẫn 5 vạn quân bí mật xuất phát, không kể ngày đêm, cướp đường mà đi, cấp tốc chỉ trong 5 ngày sau đã đến khu Thanh Trước, dựa vào địa hình nụ; mà đồn binh, tích trữ lương thảo. Rồi Mã Viện trước hết tấn công kho quân lương ở Nội Phật dơ bà Thánh Mẫu Dưỡng quản lĩnh, đánh tan cơ sở hậu cần của quân đội Hai Bà. Sau đó Mã Viện tấn công thành Cự Triền.
Cự Triền là một thành lớn do Bà Trưng Nhị tổ chức xây đắp để phòng thủ ở mặt tây bắc cho đô thành Mê Linh. Ở mặt trận này tuy quân đội của Bà Trưng đã tiến lên Lạng Sơn, nhưng do thành được xây đắp kiên cố nên Mã Viện không dễ dàng hạ nổi. Địa hình lại hoàn toàn bất lợi cho quăn Hán, vì thành được xây đắp trên gò Dền giữa cánh đồng Dền, bốn bề đồng không nước ngập, địa hình trở nên phức tạp. Để lấy điểm tựa tập kết quân sĩ tấn công thành Dền, Mã Viện đã phải hấp tấp đưa vàơ địa thế sẵn có của một quả gò nhỏ, gọi là gò Viên (dân đã quen gọi là gò Vượn) thuộc cánh đồng Vượn) đắp trong một đêm phải xong.
Một trận chiến quyết liệt đã diễn ra, cuối cùng thì thành Dền cũng bị hạ. Đình Cư An xã Tam Đồng, di tích thờ Bà Trưng Nhị có đôi câu đối viết về sự kiện này. Như sau:
Triền thuỷ ba bình phần tử y hi hàm thánh trạch
Viên thành nguyệt hiểu đống yểm ẩn ước hiện thần quang
Nghĩa là: Sóng nước quanh đồng triền (đồng Dền) đã yên, cây cối nghĩ rằng có công ơn của Thánh Trăng soi thành Vượn, bước tới gần gò đống như có như không, cũng bày ra biến hoá rõ ràng. Sau khi hạ thành Cự Triền, Mã Viện không mấy khó khăn khi tiến về đánh thành Hạ Lôi, đào mộ cha mẹ Hai Bà, yết cung điện. Kinh đô Mê Linh phút chốc chìm trong máu lên. Sau đó, Mã Viện lại kéo quân lên thành Lạng Sơn, trong đánh ra, ngoài hợp chiến cùng tiến đánh Hai Bà Trưng từ hai phía.
3- Trận chiến ở Lãng Bạc
Sau khi bị tổn thất ở thành Lạng Sơn, lại bị quân Hán bức bách ở mặt trận phía trước và phía sau, nên Bà Trưng rút quân trở về. Đội quân hai bên gặp nhau ở Lãng Bạc, địa điểm ở vùng 2 huyện Tiên Du- Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Một trận quyết chiến đã xảy ra. Sử ''Toàn thư" chép: ''Vua thấy thế giặc mạnh lắm, tự nghĩ quân mình ô hợp, sợ không chống nổi, lui về giữ Cấm Khê''
4- Công cuộc cố thủ cấm Khê
Sau khi rút khỏi mặt trận Lãng Bạc, Trong Vương biết là thành Cự Triện và kinh đô Mê Linh đã bị thất thủ, Hai Bà tiến lên vùng Cấm Khê thủ hiểm, tính kế lâu dài. Cấm Khê (sử cũng chép là Kim Khê) là vùng đất ngập nước bên bờ sông Cà Lồ từ làng Gia Phúc (xã Xuân Đài), qua làng Cẩm La, Phúc Lộc, Đống Cao của xã Vân Đài, xã Tiên Đài của tổng Vân Đài huyện Yên Lạc, phủ Vĩnh Tường triều Nguyễn, đến xã Can Bi tổng Xuân Lãng huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Yên. Trong đó các làng Cẩm La, Phúc Lộc, Yên Nội, Đống Cao đời Lê trở về trước thuộc xã Vân Đài hoặc Quan Đài cùng với các xã Xuân Đài Tiên Đài là nơi tập trung nhất về di tích thờ cúng Hai Bà Trưng.
Ở cấm Khê, quân Hai Bà bị vây hãm mấy tháng liền. Phía trước không còn đường tiếp lương, cỏ ngựa, phía sau không có quân cứu viện lại biết thành trì lăng mộ ở nhà (Hạ Lôi) đã bị Mã Viện phá hết, nhưng không thể tự phá trận để thoát khỏi vòng vây. Biết rằng cơ nghiệp do chị em gây dựng bấy nay sẽ khống còn, Bà Trưng Trắc tự khẳng định với mình rằng:
Sinh ra làm người, thà làm quỷ nước Nam, há chau đã bị trói tay bắt sống, bị người Hán phương Bác làm nhục?
Thế là Bà chỉ huy toàn quân quyết đánh một trận, quân - thần - tướng - tá đều bị vây, bị giết ở Cấm Khê. Số còn lại trở về nơi doanh địa cũ rồi lần lượt bị Mã Viện đánh bại. Thu thắp trong điền dã của chúng tôi trong khu vực xã Văn Tiến huyện Yên Lạc, thấy có như sau:
- Gò Hang: Thống kê năm 1938 của xã Vân Đài thì trong làng ''có lái đống gọi là gò Hang, nhưng không biết dưới có hang không''.
Ngày nay gò Hang hiện còn, thuộc thôn Yên Nội. Diện tích khoảng 5-6 sào Bắc Bộ, nhân dân ở đây gọi là gò Cánh Tiên. Hang có cửa vào xây cuốn vòm như hình chớp bia bằng gạch bìa, ở thành có vạch ô quả trám. Cửa hang nổi lên trên mặt đất nay mới bị lấp. Chúng tôi nghĩ rằng người xưa xây như một cái am rồi mới gánh đất đổ lên thành vòm. Gò có ''hang'' ở dưới nên gọi ''Gò Hang''. Vì vậy đất trên gò gồm nhiều loại, xồm xộp không hoàn thổ và cỏ không mọc được. Cũng chưa thấy khai thác trồng trọt. Nay mới lập 1 am nhỏ để mấy nhà bên cạnh gò thắp hương.
Có thể dơ có gò Hang là một ngôi mộ cổ dùng gạch xây đời Hán mà vùng này có địa danh Hi Sơn. Tất nhiên còn chờ ở các tài liệu khảo cổ trong tương lai. Xung quanh gò Hang còn các địa danh: Thầy Vang, Chùa Tranh, Giếng Tó, Gò Bắc Bếp; Gò Tổng Binh, Gò Cơn Ngựa.
Thầy Vang: Chữ ''Thầy'' theo cách giải thích của địa phương nghĩa là ''bờ lũy''. Thầy Vang nghĩa là bờ lũy Vang. Chữ Vang là địa danh thuộc thôn Yên Nội.
Chùa Tranh: Tên chữ là ''Phúc Lâm Tự''. Chùa không thờ bằng tượng Phật mà thờ bằng ''Tranh Phật''. Chùa Tranh thuộc thôn Đống Cao ở sau đình Đống Cao. Là một hiện tượng hiếm thấy.
Giếng Tó: Là giếng ở trước đình Đống Cao. Tang và thành giếng làm bằng đất thớ màu vàng. Nước giếng rất trong
Gò Bắc Bếp: Địa danh thuộc thôn Đống Cao, ở cạnh đình Đống Cao. Đào yên tìm thấy nhiều tro bếp và các ''ông đầu rau''.
Gò Con Ngựa: ở sau đình Đống Cao, cũng gọi là gò ''Đồng Cũ''. Trống canh tác nhân dân địa phương tìm thấy nhiều gạch bìa cổ, có vạch. Bờ móng xây bằng vữa đất, xếp từng lượt khi cày sâu vẫn bật gạch tên.
Dưới làng Vân Đài là làng Tiên Đài được nhân dân giải thích là ''Đài quan sát'' ở phía trước. Làng này xưa chỉ có một họ Trần.
Làng Xuân Đài, địa danh thời cổ là làng Liễu. ở đây có gò ''Tổng binh'', nơi cớ đền Gia Phúc thờ Hai Bà Trưng. Cả làng xưa chỉ có một họ Phạm.
Như vậy xã Văn Tiến ngày nay gồm ''3 làng Đài'' xưa là: Tiên Đài, Xuân Đài và Vân Đài (hoặc Quan Đài gồm: Cẩm La, Phúc Lộc, Đống Cao, Yên Nội)
Toàn bộ các cánh đồng cấy lúa trồng màu vùng này xưa kia là vùng đầm lầy bên bờ sông Cà Lồ. Sau đê sông Cà Lồ bị vỡ vào thời Tự Đức, nên bị bồi lấp nay thành đồng ruộng. Nay là ruộng đất các xã Nguyệt Đức, Văn Tiến.
Về giai đoạn cuối cùng của cuộc khởi nghĩa ở Cấm Khê, sử CM chép: ''Trưng Vương cùng em gái là Nhị cự chiến với quân Hán, quân vỡ thếch, đều bị thất trận chết. Sự nghiệp anh hùng cứu nước của họ Trưng đến đây là kết thúc.

(Theo Di tích - sự tích Hai Bà Trưng trên đất Vĩnh Phúc)

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Vĩnh Phúc: Chuẩn bị kế hoạch tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 65 năm ngày thành lập tỉnh (1950-2015) (01/08/2014)
Thực hiện hơn 800 lượt ứng cứu, hỗ trợ xử lý sự cố công nghệ thông tin/năm (01/08/2014)
Lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện tốt công tác an toàn của ngành (26/06/2014)
Vĩnh Phúc: Khai mạc Hội thi tìm hiểu Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (26/06/2014)
Vĩnh Phúc: Kết quả sau 3 năm thực hiện Chỉ thị 03 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (25/06/2014)
Vĩnh Phúc: Đẩy mạnh tuyên truyền về phòng cháy, chữa cháy năm 2014 (12/06/2014)
MTTQ tỉnh Vĩnh Phúc: Khẳng định vai trò then chốt trong khơi dậy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc (11/06/2014)
Công đoàn tỉnh Vĩnh Phúc: Thúc đẩy đối thoại trong doanh nghiệp (11/06/2014)
Vĩnh Phúc: Triển khai Tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2014 (09/06/2014)
Vĩnh Phúc: Đa dạng hoá học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (05/06/2014)
 Trang 1 / 28 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội và con người Vĩnh Phúc (24/11/2005)
Điều kiện tự nhiên & xã hội (24/11/2005)
Khái quát lịch sử tỉnh Vĩnh Phúc (24/11/2005)
Tiềm năng du lịch Vĩnh Phúc (24/11/2005)
Vĩnh Phúc khôi phục các làn điệu dân ca hát ru (15/10/2005)
Trần Văn Hưng, chiến sĩ công an tiên tiến của Vĩnh Phúc (06/05/2005)
Thành Dền (Vĩnh Phúc): Thông điệp về nguồn gốc và xã hội Việt cổ (15/04/2005)
Danh thắng Tây Thiên - Vĩnh Phúc (04/03/2005)
Cần giữ gìn trang phục truyền thống của người thiểu số ở Vĩnh Phúc (17/02/2005)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· ILO lo ngại về điều kiện làm việc của lao động nhập cư trong ngành điện tử tại Malaysia
· Bão Fung – Wong di chuyển hướng ra phía ngoài Biển Đông, sẽ có mưa trên cả nước
· Cảnh báo mưa dông cho khu vực Hà Nội
· Tìm nguyên nhân cử nhân tốt nghiệp lại... thất nghiệp
· Vụ học viên bỏ trốn khỏi Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Hải Phòng: Gần 50% số học viên đã trở lại
· Đóng mới tàu tìm kiếm, cứu nạn chuyên dụng
· Tin về cơn bão Fung-Wong
· Đồng chí Nguyễn Xuân Tiến giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng
· Trong 24 giờ tới, bão Fung - Wong di chuyển theo hướng Bắc, sau đó lệch dần về Bắc Đông Bắc
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet