Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 20 tháng 8 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  kythuat@cpv.org.vn
dangcongsan@cpv.org.vn
Thực hiện cơ chế "một cửa" tại các cơ quan hành chính nhà nước là sự thay đổi cơ bản phương thức làm việc của cơ quan công quyền
18:27 | 21/06/2007

Vũ Hoè
Vụ phó Vụ CCHC, Bộ Nội Vụ

(ĐCSVN)- Triển khai giai đoạn II (2006 - 2010) thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 (sau đây gọi tắt là Chương trình tổng thể), trong đó có nội dung quan trọng là triển khai đồng loạt cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính các cấp bao gồm cả cơ quan hành chính ở Trung ương, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Nội vụ tiến hành sơ kết, đánh giá toàn diện tình hình và kết quả 3 năm (2003 - 2006) thực hiện cơ chế “một cửa” theo Quyết định 181/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế "một cửa" tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (sau đây gọi tắt là Quyết định 181), từ đó đề ra các biện pháp nhằm chấn chỉnh, khắc phục kịp thời các lệch lạc, yếu kém trong việc triển khai cơ chế “một cửa” tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; đảm bảo cho việc áp dụng cơ chế “một cửa” đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời mở rộng đến các bộ, ngành Trung ương, tiến tới tổ chức thực hiện cơ chế “một cửa” liên thông các cấp chính quyền từ địa phương đến Trung ương (Công văn số 1880/VPCP - CCHC ngày 10/4/2006 của Văn phòng Chính phủ).
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ xây dựng Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện cơ chế “một cửa” theo Quyết định 181. Báo cáo này dựa trên cơ sở công tác kiểm tra của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, Ban Thư ký Ban Chỉ đạo, Bộ Nội vụ ở một số tỉnh, thành phố và tổng hợp các báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đánh giá 3 năm thực hiện cơ chế “một cửa” tại địa phương. Báo cáo gồm các phần chính sau:
- Tình hình triển khai Quyết định 181
- Kết quả thực hiện
- Một số tồn tại, nguyên nhân
- Các giải pháp nâng cao chất lượng cơ chế “một cửa” trong giai đoạn 2006 - 2010.
I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI QUYẾT ĐỊNH 181
Sau 3 năm thực hiện cơ chế “một cửa”, nhân dân và doanh nghiệp trong nước, các nhà đầu tư nước ngoài đồng tình ủng hộ và tỏ thái độ hài lòng. Nhiều địa phương đã mở rộng cơ chế này đối với một số đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công có liên quan nhiều đến người dân, doanh nghiệp, một số địa phương đã tổ chức thí điểm thực hiện cơ chế “một cửa” liên thông giữa các cấp chính quyền. Qua thực tiễn đã khẳng định sự chuyển biến rõ nét về phương thức hoạt động của các cấp chính quyền địa phương. Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế “một cửa” ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn bộc lộ một số thiếu sót, khuyết điểm cần được khắc phục để cơ chế “một cửa” thực sự là một phương thức làm việc mới, có tính chất cải cách lề lối làm việc của các cơ quan hành chính các cấp. Sau đây là những nội dung cụ thể:
1. Ở Trung ương
Tháng 01/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/2004/NQ-CP, tại phần VI mục 1 của Nghị quyết khẳng định: “Các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương tiếp tục rà soát loại bỏ những thủ tục hành chính không phù hợp, thực hiện tốt quy chế “một cửa” tại các cơ quan hành chính nhà nước khi giải quyết các vụ việc liên quan đến người dân”.
Tháng 9/2003, Bộ Nội vụ đã xây dựng và ban hành tài liệu hướng dẫn thực hiện cơ chế “một cửa” ở Uỷ ban nhân dân cấp huyện; tháng 10/2004, Bộ tiếp tục xây dựng và ban hành tài liệu hướng dẫn thực hiện cơ chế “một cửa” ở Uỷ ban nhân dân cấp xã. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2003 đến tháng 12/2004, Bộ Nội vụ đã cử nhiều đợt cán bộ giúp các tỉnh, thành phố tổ chức tập huấn về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 và phương pháp tổ chức, kỹ năng thực hành tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở các cấp tỉnh, huyện, xã; phổ biến kinh nghiệm các nơi đã thực hiện tốt cơ chế “một cửa”; cùng với Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thuỵ sỹ (SDC) và chỉ đạo Dự án VIE 01/024/B Bộ Nội vụ trợ giúp xây dựng mẫu cơ chế “một cửa” ở cấp huyện cho 26 tỉnh, thành phố.
Công tác thông tin tuyên truyền theo Quyết định số 178/2003/QĐ-TTg ngày 03/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó nội dung tuyên truyền về cơ chế “một cửa” được đẩy mạnh; các cơ quan truyền thông, báo chí ở Trung ương như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Nhân dân … liên tục có tin, bài phản ánh về cơ chế “một cửa”. Thông qua các cuộc họp giao ban báo chí giữa Bộ Nội vụ với các cơ quan truyền thông, báo chí ở Trung ương và địa phương, cơ chế “một cửa” được xác định là một trong những nội dung trọng tâm của công tác tuyên truyền.
Bộ Nội vụ, Ban Thư ký Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các địa phương trong suốt thời gian triển khai cơ chế “một cửa”, góp phần tích cực hướng dẫn các địa phương thực hiện đúng các quy định của Quyết định 181.
2. Ở địa phương
Sau khi Quyết định 181 được ban hành, hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tích cực, khẩn trương triển khai các nhiệm vụ được quy định trong Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 181, cụ thể là:
- Ban hành văn bản của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quán triệt triển khai Quyết định 181; bố trí, thành lập các cơ quan, đơn vị chủ trì, trực tiếp giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về vấn đề này.
- Chỉ đạo các sở, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trực thuộc xây dựng Đề án thực hiện cơ chế “một cửa” trên cơ sở tham khảo, vận dụng theo các bộ tài liệu hướng dẫn của Bộ Nội vụ, như:
+ Quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định thủ tục hành chính áp dụng thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh đối với các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã;
+ Thành lập, bố trí cán bộ, công chức đến làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;
+ Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;
+ Ban hành Quy chế về phối hợp hoạt động của các phòng, ban chức năng có liên quan.
- Tiến hành tập huấn đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, các cán bộ, công chức có liên quan. Đối với cấp xã, đối tượng tập huấn gồm cả Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.
- Rà soát thủ tục hành chính theo các lĩnh vực công việc quy định tại Quyết định 181, và lĩnh vực mở rộng theo quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
- Đầu tư kinh phí, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc xây dựng mới hoặc cải tạo trụ sở, phòng làm việc, mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác.
- Tiến hành các hoạt động thông tin, tuyên truyền về việc thực hiện cơ chế "một cửa” trong giải quyết công việc cho tổ chức, công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1. Về số lượng
Theo quy định của Quyết định 181, cấp tỉnh, cấp huyện phải triển khai thực hiện cơ chế “một cửa” từ 01/01/2004; cấp xã từ 01/01/2005. Tính đến hết 20/9/2006, số lượng đạt được cụ thể như sau
- Cấp tỉnh
+ Đối với các sở thuộc diện bắt buộc thực hiện trước (Sở Lao động TB và XH, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng): đã có 64/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai, đạt tỷ lệ 98,04%.
+ Đối với các sở, ngành khác đạt tỷ lệ 58,36%.
- Cấp huyện
Tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã triển khai ở 661/671 đơn vị, đạt tỷ lệ 98,50%. Chỉ còn 7/64 tỉnh chưa triển khai cơ chế này 100%.
- Cấp xã
Tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã triển khai ở 9422/10873 đơn vị, đạt tỷ lệ 86,6%. Đã có 36/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai đồng loạt 100%.
2. Về chất lượng
2.1. Về việc chấp hành quy định của Quyết định 181
Hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều chấp hành nghiêm túc quy định của Quyết định 181. 35 tỉnh, thành phố thí điểm (trước thời điểm tháng 9/2003) đã điều chỉnh các quy chế cho phù hợp với các quy định của Quyết định 181 và tiến hành mở rộng ra toàn tỉnh, chỉ sau một thời gian ngắn đã có nhiều địa phương thực hiện 100% ở các cấp chính quyền như thành phố Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Tháp v.v… Các tỉnh còn lại đã tổ chức đi nghiên cứu, khảo sát học tập kinh nghiệm của các địa phương làm trước, đồng thời căn cứ vào hướng dẫn của Bộ Nội vụ để triển khai. Tính đến hết năm 2004, 64 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đã cơ bản triển khai ở cấp tỉnh đối với 4 sở bắt buộc thực hiện trước là Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở xây dựng và Uỷ ban nhân dân cấp huyện; đến hết năm 2005 cấp xã đã cơ bản triển khai, thể hiện tính nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm của các cấp lãnh đạo trong việc chấp hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
2.2. Về nội dung thực hiện cơ chế “một cửa” và kết quả đạt được trong giải quyết công việc
64 tỉnh, thành phố khi thực hiện cơ chế “một cửa” tại các cấp chính quyền đều tuân thủ các nội dung được quy định trong Điều 4 và Điều 5 của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 181. Các nội dung đều được niêm yết công khai, minh bạch tại nơi làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, cùng với các quy định về phí, lệ phí rõ ràng, theo đúng nguyên tắc: Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật; công khai phí, lệ phí và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, công dân.
Qua 3 năm thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ quan hành chính nhà nước các cấp ở địa phương đã giải quyết cơ bản những yêu cầu của dân và doanh nghiệp trong các lĩnh vực đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, cấp giấy phép xây dựng, các quyết định về đầu tư, các lĩnh vực về đăng ký hộ khẩu, hộ tịch, chính sách xã hội v.v…chất lượng và thời gian giải quyết công việc được nâng lên, người dân chỉ cần đến một nơi, với thời gian nhất định để được giải quyết công việc đúng nguyện vọng, không phải đi lại nhiều lần; đã rút ngắn đáng kể thời gian cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo quy định chung là 90 ngày, nhiều tỉnh đã giải quyết chỉ trong 30 ngày như tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh v.v…), cấp giấy phép xây dựng (theo quy định chung là 30 ngày, rất nhiều tỉnh chỉ giải quyết trong vòng 15 ngày hoặc dưới 15 ngày), trong lĩnh vực cấp phép đầu tư nhiều tỉnh chỉ giải quyết trong vòng từ 3 đến 7 ngày, chậm là 15 ngày v.v…
2.3. Nâng cao chất lượng của tổ chức và cán bộ, công chức
Để thực hiện được kết quả đã nêu ở mục 2.2, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã quan tâm đến việc chấn chỉnh tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
- Về tổ chức bộ máy: Hầu hết các địa phương đã rà soát lại cơ cấu tổ chức bộ máy phù hợp ở cấp tỉnh và cấp huyện. Các sở cấp tỉnh tổ chức tốt Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, nhất là các sở bắt buộc thực hiện trước; ở cấp huyện đã tổ chức Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân, đại diện cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện tiếp nhận và trả kết quả cho tổ chức, công dân.
- Về cán bộ, công chức: Phần lớn cán bộ, công chức được điều động làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở các cấp là các đồng chí có kinh nghiệm công tác, hiểu biết chính sách, pháp luật, có chuyên môn về lĩnh vực công việc phụ trách. Ngoài ra còn được tổ chức tập huấn về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hành chính và các nội dung cơ bản về thực hiện cơ chế “một cửa”.
Thực tế 3 năm qua, cán bộ, công chức làm việc ở Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đã trưởng thành rõ rệt, tinh thần trách nhiệm đối với công việc được nâng cao, lấy mục đích phục vụ công dân, tổ chức làm mục tiêu công tác, được người dân đánh giá tốt về thái độ tiếp xúc và cung cách làm việc.
2.4. Về cơ sở vật chất
Nhìn chung các địa phương đã chú ý đến trụ sở làm việc và trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, như máy vi tính, máy fax, điện thoại, trang bị lại bàn làm việc, tủ đựng tài liệu, máy photocopy v.v… Ở cấp tỉnh, các sở đã sửa chữa lại phòng làm việc để có chỗ tiếp dân tốt hơn. Cấp huyện, nhiều nơi xây dựng dựng mới trụ sở, phòng làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả như các tỉnh Hà Tĩnh, Đồng Tháp, Cà Mau, Hải Phòng v.v… Cấp xã cũng được củng cố tốt như ở Hà Tĩnh, Đắk Lắk, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình … Tuy nhiên, kết quả kiểm tra thực tế ở một số tỉnh, thành phố thì trụ sở vẫn cần được nghiên cứu sửa chữa hoặc xây dựng lại, mới đạt yêu cầu.
2.5. Quan hệ giữa chính quyền với người dân và các tổ chức, doanh nghiệp
Quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” tại các cấp chính quyền địa phương đã tạo điều kiện để chính quyền gần dân hơn. Lãnh đạo, cán bộ, công chức các cấp đã hướng mục tiêu công việc là phục vụ nhân dân, đã giảm đi nhiều phiền hà mà trước đây người dân phải gánh chịu như sự sách nhiễu của cán bộ, công chức, không rõ ràng về thủ tục, thiếu công khai, minh bạch về phí, lệ phí, phải đi lại nhiều lần mà vẫn chưa giải quyết được công việc. Nay người dân đã được đón tiếp tốt hơn, có chỗ ngồi chờ, được hiểu rõ các thủ tục và thời gian giải quyết công việc. Thái độ của cán bộ, công chức đối với người dân thể hiện trọng thị hơn, họ thấy mình được tôn trọng, nên tin tưởng hơn vào chính quyền.
2.6. Đánh giá về chủ trương thực hiện cơ chế “một cửa” theo Quyết định 181
2.6.1. Về chủ trương
Sau 3 năm thực hiện cơ chế “một cửa” ở tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã khẳng định:
- Mọi thủ tục giải quyết công việc được công khai minh bạch, kể cả phí và lệ phí.
- Thái độ của cán bộ, công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đã cơ bản làm cho người dân hài lòng
- Trụ sở tiếp dân được các cấp quan tâm nên có được cải thiện hơn, có chỗ để công dân ngồi chờ và các điều kiện phục vụ tốt.
- Thời gian giải quyết đúng hẹn
2.6.2. Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội
Thực hiện cơ chế “một cửa” 3 năm qua đã giải quyết được một số vướng mắc lớn về các thủ tục thành lập doanh nghiệp, cấp giấy phép đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp giấy đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy phép xây dựng, các thủ tục về thuế, hải quan, xuất nhập khẩu, chính sách xã hội v.v… Đây là những thủ tục có ảnh hưởng lớn đến sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài. Khi thực hiện cơ chế “một cửa” các cấp chính quyền đã chú ý giải quyết một số việc quan trọng như:
- Rà soát để sửa đổi bổ sung hoặc bãi bỏ một số thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp của 15 bộ, ngành và 21 tỉnh, thành phố trong năm 2004 trên các lĩnh vực xuất nhập cảnh, tài chính, hải quan, giao thông vận tải, giáo dục đào tạo, du lịch, công chứng, hộ khẩu, quản lý hộ tịch, lý lịch tư pháp, nhà đất, thương mại, xây dựng, văn hoá thông tin …; đã bãi bỏ 140 loại phí, lệ phí do Trung ương quy định và 203 loại phí, lệ phí do địa phương ban hành. Trên cơ sở đó đã khẳng định tính minh bạch của các loại công việc được giải quyết cho công dân và tổ chức.
- Quy định chặt chẽ thời gian giải quyết hồ sơ của công dân, tổ chức chủ yếu các lĩnh vực đầu tư, thành lập doanh nghiệp, cấp giấy phép kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho thuê đất. Hầu hết công việc được giải quyết nhanh hơn theo quy định của luật như lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh v.v… hoặc lĩnh vực hàng hải được tổ chức theo cơ chế “một cửa” tại các cảng vụ đã đẩy nhanh tiến độ thủ tục tàu vào cảng và rời cảng, làm lợi hàng tỷ đồng cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp.
Kết quả của việc thực hiện cơ chế “một cửa” đã làm cho các doanh nghiệp trong nước, các nhà đầu tư nước ngoài hài lòng, tin tưởng vào chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam. Do đó Việt Nam được đánh giá như một điểm sáng về nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, là một trong nhóm 10 quốc gia có tốc độ cải cách nhanh nhất thế giới. Thực tế cũng đã khẳng định địa phương nào đẩy mạnh cải cách hành chính nói chung và thực hiện nghiêm túc cơ chế “một cửa” nói riêng thì nơi đó phát triển kinh tế – xã hội tốt và bền vững như tỉnh Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh …., các thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng là những minh chứng cụ thể.
3. Những sáng kiến, thí điểm quan trọng
Quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” nhiều tỉnh, thành phố đã có những thí điểm đạt nhiều kết quả rất tích cực, có thể đánh giá để nhân rộng một số thí điểm điển hình sau đây:
3.1. Thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở tỉnh Quảng Trị, sau đó nhân rộng ra 4 tỉnh là Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An. Đây là một nghiên cứu nhiều năm được sự hỗ trợ của dự án SIDA Thuỵ Điển. Kết quả đã rút ngắn được thời gian cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình và tổ chức từ 90 ngày xuống còn dưới 30 ngày, được nhân dân đồng tình ủng hộ.
3.2. Thành lập tổ chuyên viên nghiệp vụ hành chính công, trực tiếp xử lý, tham mưu trình lãnh đạo giải quyết các hồ sơ thuộc lĩnh vực được phân công ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, xây dựng quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 tại một số quận, huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh, như các Quận 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 11, Bình Thạnh, Tân Phú, huyện Bình Chánh, Cần Giờ …. Đồng thời, các sở, ngành, Uỷ ban nhân dân các quận, huyện của thành phố luôn duy trì hoạt động khảo sát, tiếp nhận ý kiến phản hồi của người dân đối với hoạt động của cơ quan, đơn vị, làm tiêu chí, cơ sở đánh giá thi đua trong cải cách hành chính, công việc này tiếp tục được phát huy và nhân rộng trong toàn Thành phố.
3.3. Thí điểm giải quyết liên thông các lĩnh vực thương binh xã hội và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thành phố Đà Nẵng (từ 01/6/2006 tại các xã Hoà Phong, Hoà Châu thuộc huyện Hoà Vang và phường Xuân Hoà thuộc quận Thanh Khê), lĩnh vực cấp Giấy phép xây dựng thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân thành phố, thị xã trên địa bàn phường Gia Cẩm thuộc thành phố Việt Trì, phường Hùng Vương thuộc thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ; việc thí điểm mô hình “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” mẫu, hiện đại tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân quận Ngô Quyền, triển khai xây dựng phương án thực hiện mô hình “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” độc lập, chuyên trách tại các sở, ngành, Uỷ ban nhân dân các quận, thị xã của thành phố Hải Phòng …
3.4. Mở rộng trụ sở tiếp dân, tạo nơi làm việc và đón tiếp công dân hiện đại như huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, quận Hồng Bàng, Ngô Quyền thành phố Hải Phòng, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng… Đây là những trụ sở coi như mẫu mực có thể nhân rộng.
3.5. Một số địa phương đã yêu cầu các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn thực hiện cơ chế “một cửa” để giải quyết công việc của dân như cơ quan thuế, kho bạc, hải quan, công an (đăng ký hộ khẩu), cảng vụ, bảo hiểm xã hội ở thành phố Đà Nẵng, Hải Phòng, huyện Cái Nước tỉnh Cà Mau, tỉnh Quảng Ninh. Tỉnh Gia Lai đã tổ chức cơ chế “một cửa” tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh để giải quyết công việc của các cơ quan, tổ chức đến trình và xin ý kiến Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh, công việc này cũng đem lại nhiều kết quả rất tích cực.
3.6. Ở Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã áp dụng thí điểm cơ chế “một cửa” tại 6 Cục thuộc Bộ. Thời gian thực hiện thí điểm bắt đầu từ 01/3/2005 đối với Cục Bảo vệ thực vật, Cục Thú y, Cục Nông nghiệp. Bắt đầu từ 01/7/2005 đối với Cục Thuỷ lợi, Cục Quản lý xây dựng công trình, và từ 01/11/2005 đối với Cục Hợp tác xã và phát triển nông thôn. Mặc dù thời gian thí điểm là chưa nhiều, song với các kết quả đã đạt được có thể khẳng định cơ chế “một cửa” thực hiện ở các Cục là thực sự cần thiết và phù hợp với tiến trình cải cách hành chính của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đồng thời, Bộ khẳng định sẽ quyết tâm triển khai áp dụng thực hiện cơ chế “một cửa” đối với tất cả các Cục còn lại trong thời gian tới.
4. Đánh giá chung
Qua 3 năm thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, đã đạt được một số kết quả quan trọng:
4.1. Khẳng định chủ trương thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước địa phương là hoàn toàn đúng đắn, mục tiêu là hướng tới phục vụ người dân ngày một tốt hơn. Thực hiện một phương thức mới trong hoạt động của các cấp chính quyền là một chủ trương đúng và nhất quán.
4.2. Tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tiến hành thực hiện đồng loạt cơ chế “một cửa” tại 3 cấp chính quyền (tuy chưa đạt 100% ở 3 cấp), khẳng định sự chấp hành nghiêm túc chủ trương cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước nói chung, và thực hiện cơ chế “một cửa” nói riêng của lãnh đạo các tỉnh, thành phố.
4.3. Đã thực hiện đầy đủ các nội dung nguyên tắc và mục tiêu đề ra trong Quyết định 181, thể hiện rõ trách nhiệm triển khai của lãnh đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và trách nhiệm hỗ trợ, chỉ đạo của các bộ, ngành Trung ương trong việc rà soát các thủ tục hành chính, góp phần thực hiện tốt Quyết định 181.
III. MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN
Bên cạnh các kết quả tích cực đã đạt được sau 3 năm triển khai thực hiện cơ chế “một cửa”, nghiêm túc kiểm điểm vẫn còn một số tồn tại thiếu sót và một số vướng mắc cần được khắc phục sau đây:
1. Một số tồn tại, vướng mắc
1.1. Công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa nghiêm túc, thiếu kiên quyết, thực hiện còn hình thức, chiếu lệ hoặc còn máy móc, thiếu sáng tạo nên hiệu quả không cao. Từ đó dẫn đến một số vấn đề cần được điều chỉnh kịp thời như:
- Thiếu quan tâm đến những quy định cụ thể trong Quyết định 181 nên tên gọi của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn tuỳ tiện, không đúng quy định.
- Chưa quan tâm đúng mức đến trụ sở tiếp dân nên nhiều nơi trụ sở không có hoặc có trụ sở nhưng không đạt yêu cầu, theo thống kê vẫn còn khoảng 10% đơn vị cấp xã chưa có trụ sở, 40% trụ sở là nhà cấp 4 đã cũ nát.
- Không chú ý để trang bị đầy đủ phương tiện làm việc cho cán bộ, công chức và chưa chú ý đến chính sách đãi ngộ cho cán bộ, công chức làm việc ở Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
- Có địa phương đã xuất hiện ý tưởng không tiếp tục thực hiện cơ chế “một cửa” như một số huyện ở tỉnh Đắk Lắk, Tiền Giang.
1.2. Hệ thống thể chế và cơ chế phối hợp còn yếu, cụ thể:
- Tính ổn định và đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp luật chưa cao như các quy định trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, tư pháp v.v…
- Thủ tục hành chính do Chính phủ và các bộ, ngành ban hành còn phức tạp, gây phiền hà cho việc thực hiện của cấp dưới. Một số quy định còn xung đột, điển hình như việc quy định chức năng, nhiệm vụ của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là một đơn vị sự nghiệp có thu với bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo Quyết định 181 (Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BTNMT-BNV ngày 31/12/2004 của Liên Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ).
- Cơ chế phối hợp giữa các đơn vị chức năng chưa tốt nên còn nhiều hồ sơ chưa trả đúng hẹn. Một số đơn vị chưa thực hiện quy định chung về cơ chế “một cửa” mà vẫn theo quy định riêng của ngành, như các lĩnh vực liên quan đến hộ khẩu của ngành Công an.
1.3. Trình độ cán bộ, công chức ở Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn nhiều bất cập, tỷ lệ đạt chuẩn thấp, nhiều nơi mới chỉ đạt từ 20 – 30%, có nơi chỉ đạt 12 – 18%; tác phong làm việc còn theo kiểu cũ tới 30%.
1.4. Công tác tuyên truyền còn nhiều hạn chế, do vậy người dân và các tổ chức xã hội chưa hiểu biết đầy đủ về cải cách hành chính và thực hiện cơ chế “một cửa”, còn nhiều quan niệm, nhận thức sai về cơ chế “một cửa”.
1.5. Thiếu kinh phí hoạt động là phổ biến ở tất cả các tỉnh, thành phố. Do vậy đã dẫn đến tình trạng thiếu điều kiện thực hiện trong quá trình triển khai cơ chế “một cửa”.
2. Nguyên nhân
2.1. Quyết tâm chính trị của cấp uỷ và người đứng đầu địa phương (Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) chưa cao ở nhiều tỉnh, thành phố. Bất cập này chủ yếu xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về cải cách hành chính nhà nước, về cơ chế “một cửa”, còn mang nặng tư duy làm việc theo cơ chế cũ, không muốn đụng chạm tới lợi ích cục bộ của một bộ phận cán bộ, công chức, ngành, lĩnh vực, do đó chần chừ, trì hoãn thực hiện các yêu cầu cải cách.
Mặt khác, do không xác định được sự cần thiết phải thay đổi phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước là hướng tới phục vụ dân, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân và tổ chức, nên chưa kiên quyết, thiếu sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành. Ngay cả đối với công tác sơ, tổng kết các vấn đề quan trọng trong cải cách hành chính theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ cũng không được một số địa phương quan tâm thực hiện.
2.2. Thiếu chính sách đãi ngộ cho cán bộ, công chức ở Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, đồng thời chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý những cá nhân, đơn vị gây cản trở hoặc không thực hiện cơ chế “một cửa”. Do đó, chưa tạo được động lực để thực hiện cơ chế “một cửa” một cách tốt nhất.
2.3. Các quy định của các bộ, ngành Trung ương còn thiếu đồng bộ, chưa thống nhất, tính ổn định chưa cao, còn nhiều thủ tục hành chính gây phức tạp, phiền hà cho tổ chức, công dân.

2.4. Quy định của Quyết định 181 còn mang tính đồng loạt, chưa chú ý đến đặc điểm của các vùng miền và trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, do đó khi thực hiện đồng loạt đã gặp phải một số vướng mắc như thiếu trụ sở, không đủ cán bộ, công chức đạt chuẩn v.v…
3. Một số kinh nghiệm rút ra qua 3 năm thực hiện cơ chế “một cửa”
Thứ nhất là, sự thống nhất, thông suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp uỷ và người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp là yếu tố quan trọng nhất, quyết định thành công của công cuộc cải cách hành chính nói chung và thực hiện cơ chế “một cửa” nói riêng. Thực tế đã được chứng minh ở 24 tỉnh, thành phố nơi cấp uỷ Đảng có nghị quyết hoặc chỉ thị về đẩy mạnh cải cách hành chính thì cơ quan hành chính các cấp đều triển khai đồng bộ và đạt được kết quả quan trọng, như các thành phố Đà Nẵng, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Quảng Bình, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Hà Tĩnh v.v…
Thứ hai là, thực hiện nghiêm túc và kiên quyết các quy định trong Quyết định 181 về công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí, thời gian giải quyết cũng như quy trình giải quyết công việc, đã khẳng định sự minh bạch của cơ quan công quyền trong quá trình giải quyết công việc cho công dân và tổ chức, tạo được lòng tin của dân với chính quyền.
Thứ ba là, sự cần thiết phải củng cố cơ sở vật chất, hiện đại hoá một bước công sở, làm cho “bộ mặt” của cơ quan hành chính được cải thiện đáng kể, tạo điều kiện cho người dân đến cơ quan giải quyết công việc có chỗ ngồi thoáng mát, có các phương tiện phục vụ, người dân, tổ chức được tôn trọng, được phục vụ, thể hiện sự ưu việt của phương thức làm việc mới theo hướng cải cách phát triển. Mặt khác, trong việc bố trí cán bộ, công chức đủ trình độ, có thái độ ứng xử lịch sự, đề cao đạo đức công vụ, làm cho người dân, tổ chức hài lòng. Đây là một yếu tố cơ bản dẫn đến thành công trong quá trình thực hiện Quyết định 181.
Thứ tư là, việc phát huy các sáng kiến, thí điểm quan trọng của nhiều địa phương trong quá trình thực hiện đã đem lại những kết quả tốt, góp phần xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
IV. GIẢI PHÁP TIẾP TỤC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CƠ CHẾ “MỘT CỬA” TRONG GIAI ĐOẠN 2006 – 2010
Quyết định số 94/2006/QĐ-TTg ngày 27/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2006 – 2010 đã khẳng định: “Triển khai thực hiện đồng loạt cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính các cấp, bao gồm cả các cơ quan hành chính của Trung ương”. Do đó, các cấp, các ngành cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
1. Đối với các cấp chính quyền địa phương
1.1. Cần nhận thức áp dụng cơ chế “một cửa” là một việc góp phần quan trọng thay đổi phương thức làm việc của cơ quan hành chính các cấp theo tinh thần cải cách. Do đó phải thực hiện nghiêm túc các quy định của Quyết định 181 về tổ chức nhân sự, nội dung, nguyên tắc, trách nhiệm và quy trình giải quyết công việc. Trong đó, các địa phương cần lưu ý đến một số việc cụ thể sau:
- Thống nhất tên gọi BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ TRẢ KẾT QUẢ theo cơ chế “một cửa” ở tất cả các cấp.
- Mô hình hoạt động:
+ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của sở, ngành cấp tỉnh và cấp huyện thuộc văn phòng sở, văn phòng uỷ ban nhân dân cấp huyện, bố trí cán bộ, công chức là những người có trình độ chuyên môn thuộc ngành, lĩnh vực làm việc ở bộ phận này, không bố trí công chức hành chính đơn thuần làm nhiệm vụ tiếp nhận và trả kết quả.
+ Đối với cấp xã: tổ chức theo mô hình trực tuyến, công dân, tổ chức trực tiếp nộp hồ sơ cho công chức phụ trách lĩnh vực tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để công chức thụ lý, báo cáo lãnh đạo Uỷ ban nhân dân phê duyệt, sau đó trả lại công dân, tổ chức (có 2 loại công việc: loại giải quyết ngay không cần hẹn thời gian như chứng thực, xác nhận đơn thư …loại ghi giấy hẹn là loại công việc cần phải thẩm tra, xác minh như đất đai, xây dựng, thương binh xã hội …).
Các cấp bố trí lịch làm việc công khai 8giờ/ngày, 5 ngày/tuần để người dân biết rõ ngày, giờ làm việc để tiện liên hệ công tác.
- Công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, phí, lệ phí, thời gian giải quyết công việc cho công dân, tổ chức tại nơi làm việc của cơ quan công quyền.
- Củng cố cơ sở vật chất, sửa chữa trụ sở hoặc xây mới đảm bảo đạt chuẩn theo yêu cầu đã quy định trong Quyết định 181 (có thể tham khảo quận Hồng Bàng, Ngô Quyền thành phố Hải Phòng, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, huyện Cái Nước tỉnh Cà Mau, Uỷ ban nhân dân thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình …) trên cơ sở đó xây dựng mô hình chuẩn, hiện đại ở các cấp về trụ sở làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo lộ trình hiện đại hoá công sở giai đoạn 2006 – 2010.
1.2. Hoàn thiện Quyết định 181 theo hướng:
- Thực hiện cơ chế “một cửa” ở tất cả các cấp chính quyền địa phương đối với những lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến tổ chức, công dân. Như vậy, các sở ngành cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện và cấp xã đều phải tổ chức thực hiện cơ chế “một cửa” (trừ các đơn vị không có liên quan đến công việc của tổ chức, công dân). Việc này được thực hiện trong Quý IV/2006.
- Phân loại công việc giải quyết theo cơ chế “một cửa” ở các cấp, gồm những lĩnh vực giải quyết ngay không ghi giấy hẹn như công chứng, chứng thực, một số công việc về hộ tịch, xác nhận đơn thư …; những loại phải ghi giấy hẹn. Công việc này do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
- Tổ chức thí điểm cơ chế “một cửa” liên thông giữa các cấp chính quyền trong việc giải quyết công việc cho tổ chức, công dân, tiến tới thực hiện liên thông ở tất cả các địa phương. Việc này Bộ Nội vụ sẽ hướng dẫn sau khi đánh giá kết quả thí điểm ở một số địa phương, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định thành cơ chế hoạt động chính thức vào Quý III/2007.
- Căn cứ vào đặc điểm vùng miền để tổ chức thực hiện cơ chế “một cửa” cho phù hợp với một số huyện, xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, trên cơ sở công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian làm việc của cán bộ, công chức theo quy định của Nhà nước. Bộ Nội vụ phối hợp với các tỉnh biên giới, miền núi, vùng sâu, vùng xa để xem xét và quy định cụ thể trong Quý IV/2006.
2. Đối với với các cơ quan truyền thông, báo chí ở Trung ương và địa phương
Tiếp tục thực hiện nghiêm túc các quy định trong Quyết định số 178/2003/QĐ-TTg ngày 03/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tuyên truyền Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010, xây dựng chuyên trang, chuyên mục ở các báo Trung ương, địa phương, các đài phát thanh – truyền hình Trung ương và địa phương, nhằm nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội về chủ trương cải cách hành chính nhà nước và thực hiện cơ chế “một cửa”.
3. Đối với các bộ, ngành Trung ương
3.1. Đề nghị Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành Trung ương chỉ đạo việc rà soát các thủ tục hành chính thuộc trách nhiệm quản lý ngành, lĩnh vực, giảm tối đa các loại giấy tờ trong hồ sơ giải quyết công việc của dân và tổ chức. Công việc này cần được thực hiện thường xuyên, liên tục.
3.2. Bộ Nội vụ chủ động phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính và các bộ, ngành có liên quan nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ xem xét sửa đổi một số điều trong Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 181, quy định rõ chế độ đãi ngộ cho cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, chế độ tài chính cho thực hiện cơ chế “một cửa” ở các cấp chính quyền, và chế độ khen thưởng, kỷ luật đối với cơ quan, đơn vị và cá nhân có hành vi cản trở hoặc không thực hiện các quy định của cấp trên. Việc này được thực hiện trong Quý IV/2006.
3.3. Đề nghị Bộ Tư pháp trong công tác thẩm định các dự án luật, pháp lệnh, các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, ngành Trung ương xây dựng chú ý đến tính đồng bộ, thống nhất, tránh chồng chéo, xung đột giữa các văn bản trong hệ thống pháp luật Nhà nước.
3.4. Vấn đề tổ chức thực hiện cơ chế “một cửa” ở các bộ, ngành Trung ương:
- Trước mắt, đề nghị các bộ, ngành chỉ đạo các đơn vị thuộc ngành đóng tại các địa phương áp dụng thực hiện cơ chế “một cửa” trong giải quyết công việc cho tổ chức, công dân. Đó là các ngành thuế, kho bạc, hải quan, cảng vụ, công an, một số đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước có liên quan nhiều đến người dân như bệnh viện, bưu điện, điện lực, ngân hàng chính sách xã hội …
- Tại trụ sở của các bộ, ngành đề nghị nghiên cứu thí điểm thực hiện cơ chế “một cửa” ở những nơi có liên quan nhiều đến tổ chức, công dân, như kế hoạch, đầu tư, tài chính, lao động thương binh xã hội, thương mại …, cần thực hiện trước hết các yêu cầu về công khai, minh bạch các thủ tục giấy tờ, thời gian giải quyết công việc… tại trụ sở Văn phòng Bộ để mọi tổ chức, công dân tiện liên hệ công tác.
Thời gian thực hiện các công việc nêu ở mục này được thực hiện trong Quý IV/2006./.

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Tiếp tục nâng cao chất lượng CCHC: Cán bộ vẫn là khâu quan trọng (06/02/2009)
Vĩnh Phúc: Một số giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính (16/12/2008)
Những chuyển biến trong năm cải cách hành chính và giải phóng mặt bằng ở Hải Phòng (28/11/2008)
Thực hiện “Một cửa” tại Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc (26/11/2008)
Giải quyết thủ tục hành chính: Chưa hết tình trạng tùy tiện, “tự biên tự diễn” (19/11/2008)
Bắc Ninh: Cải cách thủ tục hành chính trong thu hút đầu tư (17/10/2008)
Cải cách thủ tục để thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài (16/09/2008)
Nên có luật về quản lý vốn nhà nước (09/09/2008)
Từ 1/9/2008 bãi bỏ các loại giấy phép con: Tạo môi trường thông thoáng cho doanh nghiệp (04/09/2008)
Phần mềm hỗ trợ xử lý nghiệp vụ: Có mà chưa biết dùng! (22/08/2008)
 Trang 1 / 7 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Cải cách nền hành chính nhà nước trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam (21/06/2007)
Vai trò của các cấp uỷ trong công cuộc cải cách hành chính nhà nước (21/06/2007)
Đẩy mạnh cải cách hành chính để phòng, chống tham nhũng (19/06/2007)
Một số kiến nghị cải thiện chất lượng hệ thống quy định hiện hành về giấy phép kinh doanh (19/06/2007)
Cải cách hành chính với nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (19/06/2007)
Cải cách hành chính để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với tổ chức và nhân dân (18/06/2007)
Cải cách chế độ công vụ ở các quốc gia Đông Bắc Á (18/06/2007)
Suy nghĩ về cách tiếp cận và lộ trình cải cách hệ thống chính trị ở Việt Nam (18/06/2007)
Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân (15/06/2007)
Cải cách hành chính ở một số nước, khu vực trên thế giới: tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn (15/06/2007)
 Trang 1 / 2 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Công bố Quyết định bổ nhiệm hai Thứ trưởng Bộ Tư pháp
· Suy ngẫm từ 3 hiện tượng không bình thường
· Thủ tướng phê chuẩn nhân sự UBND tỉnh Bến Tre
· Hội nghị toàn quốc hướng dẫn kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
· Phát huy vai trò đầu tàu trong Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
· Vinamilk nhận giải thưởng Công nghiệp thực phẩm toàn cầu 2014
· Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi): Cần làm rõ vị trí, vai trò của Bộ trưởng “không bộ”
· Gần 30 nghìn trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đã được hỗ trợ
· Các tỉnh miền Đông Nam bộ chủ động phòng chống dịch sốt xuất huyết
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet