Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 19 tháng 4 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  kythuat@cpv.org.vn
dangcongsan@cpv.org.vn
Thương mại Việt Nam - Nhật Bản trong tiến trình phát triển quan hệ hai nước
11:00 | 13/05/2009

(ĐCSVN) - Nhân dịp kỷ niệm 35 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, đặc biệt sau chuyến thăm Nhật Bản mới đây của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã phát hành cuốn sách “Thương mại Việt Nam - Nhật Bản trong tiến trình phát triển quan hệ giữa hai nước” của Tiến sĩ Kinh tế chính trị học Trần Anh Phương.

Trong 35 năm qua, với sự nỗ lực của cả hai bên, quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày càng tiến triển khả quan hơn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học - kỹ thuật. Đặc biệt, kinh tế thương mại đã phát triển nhanh chóng và đang có nhiều triển vọng tốt đẹp trong thời kỳ mới.

 

Tuy nhiên, những kết quả đã đạt được đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu của cả Việt Nam và Nhật Bản. Vì sao như vậy và làm thế nào để quan hệ giữa hai nước phát triển ngày càng tốt hơn, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là thương mại?...

Nhằm góp phần lý giải những vấn đề trên, cuốn sách của tác giả Trần Anh Phương đã được biên soạn từ một công trình nghiên cứu tâm huyết nhiều năm với mong muốn “góp phần nhỏ” của mình vào các hoạt động kỷ niệm 35 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, cung cấp những thông tin về hoạt động thương mại Việt-Nhật trong mối quan hệ chặt chẽ với tiến trình phát triển quan hệ giữa hai nước. Qua đó, bạn đọc có thể tham khảo các kiến giải khoa học - thực tiễn của tác giả nhằm thúc đẩy mạnh hơn nữa quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, đặc biệt là trong hợp tác thương mại đến năm 2020.

Cuốn sách có độ dầy 175 trang khổ 14,5 x 20,5 cm. Ngoài các phần: Lời Nhà xuất bản, Lời tác giả, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo; Nội dung chính gồm 3 chương kết cấu như sau:

Chương 1: Sơ lược lịch sử quan hệ Việt Nam - Nhật Bản.

Chương 2: Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn 1973 – 2008

Chương 3: Triển vọng và giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản đến năm 2020.

Phần phụ lục: Nhớ về những người bạn Nhật

Trong Chương 1, tác giả đã khái lược lịch sử quan hệ giao lưu giữa hai dân tộc Việt-Nhật qua nhiều thế kỷ từ trước khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay. Tác giả viết “ Ngay từ sơ kỳ thời đại đồ đá mới ở miền Trung nước Nhật đã thể hiện những mối liên hệ với nền văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn ở Việt Nam” và “ Vào nửa cuối thế kỷ XIII cả hai dân tộc Việt Nam và Nhật Bản đã từng bị đế quốc Nguyên Mông xâm lược” nhưng chúng đều bị đại bại bởi ý chí quật cường của hai dân tộc.

Từ đầu thế kỷ XV, người Nhật đã đến buôn bán ở Việt Nam và để lại nhiều dấu tích ở Phố cổ Hội An (Quảng Nam) ngày nay. Nhưng từ năm 1635 kéo dài đến cuối thế kỷ XIX, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản bị gián đoạn vì nước Nhật thi hành chính sách “ bế quan toả cảng”. Sang đến thế kỷ XX cho đến trước khi hai nước ký kết Hiệp định chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21-9-1973, do nhiều nguyên nhân lịch sử khi đó nên “quan hệ Việt Nam - Nhật Bản tuy vẫn duy trì, song sự tiến triển còn chậm chạp”.

Và trong 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao kể từ năm 1973 cho đến nay (2008), tác giả đã phân tích, chia thành 3 giai đoạn phát triển: Giai đoạn 1973 – 1978; Giai đoạn 1979 – 1991; Giai đoạn 1992 – 2008. Trong mỗi giai đoạn, tác giả đã nêu nhiều diễn biến và kết quả đạt được của mối quan hệ hai nước trong chính trị và hợp tác an ninh; giao lưu, hợp tác phát triển văn hoá, du lịch và đặc biệt là quan hệ kinh tế. Trong đó, nổi bật lên hợp tác thương mại trong tiến trình phát triển quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đã được tác giả phân tích khá sâu sắc. Bằng dẫn chứng cụ thể, tác giả đã nêu ra nhiều số liệu sinh động để chứng minh vai trò đối tác kinh tế hàng đầu của Nhật Bản tại Việt Nam như: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt - Nhật giai đoạn 1990 – 2008 tăng trưởng bình quân với mức khá cao 20%/năm. Năm 1990 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu mới đạt 800 triệu USD, nhưng đến năm 2008 đã lên đến 16 tỷ USD. Vốn FDI của Nhật Bản vào Việt Nam cũng ngày càng tăng nhanh ở nhiều địa phương trong cả nước. Tính đến cuối năm 2007, Nhật Bản đã đầu tư 938 dự án với tổng số vốn hơn 9,1 tỷ USD; Nhật Bản còn là nhà tài trợ số 1 về ODA dành cho Việt Nam từ năm 1992 đến 2008 là hơn 13 tỷ USD, chiếm khoảng 1/3 tổng viện trợ của quốc tế cho Việt Nam, trong đó có 1 tỷ USD không hoàn lại … Trong mỗi lĩnh vực hợp tác phát triển, tác giả đã nêu lên những vấn đề quan trọng mà cả Việt Nam và Nhật Bản cần được tiếp tục giải quyết tốt hơn: Vốn FDI của Nhật Bản nên quan tâm dành đầu tư vào lĩnh vực nông - lâm – ngư nghiệp và các vùng núi xa xôi, hẻo lánh; tăng cường hơn nữa sự liên kết của các doanh nghiệp FDI Nhật Bản với các doanh nghiệp Việt Nam; Các doanh nghiệp phụ trợ ở Việt Nam cần đáp ứng yêu cầu về cung cấp nguyên liệu và phụ tùng cho các doanh nghiệp Nhật Bản; môi trường pháp lý của Việt Nam cần hoàn chỉnh minh bạch hơn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư Nhật Bản; nâng cao hơn nữa việc sử dụng vốn ODA, trong đó việc giải ngân nguồn vốn xây dựng là rất quan trọng…

Với Chương 2, có thể nói đây chính là một trong những nội dung cơ bản nhất của cuốn sách và đã được tác giả dành nhiều tâm lực nghiên cứu, phân tích chi tiết về động thái tiến triển của quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản trong 35 năm qua.

Theo tác giả: “Trong 35 năm quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản có thể được chia thành 3 giai đoạn: Từ năm 1973 đến năm 1975; từ năm 1976 đến năm 1986 và từ năm 1987 đến năm 2008. Trong mỗi giai đoạn, tác giả đã phân tích và đưa ra nhiều số liệu có sức thuyết phục để lý giải về sự phát triển thương mại Việt - Nhật tuy có lúc thăng, trầm nhưng suốt 35 năm qua, hiệu quả của hoạt động kinh tế thương mại Việt - Nhật đã đóng góp rất to lớn vào quá trình phát triển bền vững mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản.

Tuy vậy quan hệ thương mại Việt - Nhật cũng còn một số hạn chế, bất cập do những nguyên nhân chủ quan của cả hai bên Việt Nam và Nhật Bản mà tác giả đã nêu ra. Về phía Việt Nam, đó là: chất lượng hàng Việt Nam xuất sang Nhật Bản còn chưa ổn định và trên 50% KNXK thu về vẫn chủ yếu nhờ xuất khẩu các sản phẩm thô; các giải pháp thâm nhập thị trường Nhật Bản của Việt Nam còn đơn giản và thiếu tính chủ động; quy mô các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ bé, phương thức thu gom hàng để xuất khẩu còn manh mún; tệ quan liêu, giấy tờ gây phiền hà cho nhà đầu tư chưa giảm; nhà nước chưa có biện pháp triệt để thúc đẩy quan hệ thương mại Việt - Nhật; cơ sở vật chất kỹ thuật của ngoại thương Việt Nam còn nghèo nàn, lạc hậu… Còn hạn chế về phía Nhật Bản lớn nhất mà tác giả nêu lên là “cho đến nay (tháng 11/2008) vẫn chưa ký kết được Hiệp định Thương mại với Việt Nam”...

Vì vậy để tiếp tục nâng lên tầm cao mới của sự hợp tác phát triển thương mại hai nước, riêng về phía Việt Nam, tác giả đã cho rằng, “ Hoạt động thương mại của Việt Nam phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện hơn nữa. Trong tương lai không xa, chúng ta không chỉ chú trọng đến việc mở rộng quy mô buôn bán theo hướng lựa chọn và phát triển được một cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu phù hợp với nhu cầu thị trường Nhật Bản; mà điều quan trọng hơn là hàng hoá xuất nhập khẩu này phải có khả năng khai thác có hiệu quả cao nhất sự phân công, trao đổi các lợi thế so sánh của hai nước”…

Tiếp theo là Chương 3, tác giả đã phân tích những thuận lợi, khó khăn; đưa ra những dự báo triển vọng; đồng thời đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát triển mạnh hơn nữa quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản đến năm 2020.

Theo tác giả, cả hai nước Việt- Nhật đều phải có những giải pháp nỗ lực hợp tác phát triển, phù hợp với tiềm năng và nhu cầu của cả hai nuớc trong bối cảnh khu vực hoá, toàn cầu hoá kinh tế hiện nay. Trước mắt, cả hai bên cần nhanh chóng ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) và do đó cả Hiệp định Thương mại tự do song phương Việt-Nhật (VJFTA) cũng sẽ được ký kết đồng thời. Riêng với Việt Nam, cần tập trung vào những giải pháp cơ bản: Xây dựng một cơ cấu các sản phẩm xuất nhập khẩu hợp lý và có hiệu quả cao phù hợp với mục tiêu phát triển một nền kinh tế bền vững; tiếp tục đổi mới hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế, cơ chế quản lý ngoại thương Việt Nam theo hướng năng động phù hợp với thông lệ quốc tế, thị trường Nhật Bản và lợi ích phát triển kinh tế Việt Nam.

Kết thúc Chương III, từ kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu về Nhật Bản và quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, tác giả đã mạnh dạn đề xuất kiến nghị: “Nước ta cần chủ động xây dựng chiến lược hợp tác phát triển toàn diện dài hạn với Nhật Bản từ nay đến năm 2020, trong đó đặc biệt coi trọng đến các quan hệ hợp tác phát triển kinh tế phù hợp với lợi thế so sánh và yêu cầu phát triển thực tiễn của mỗi nước. Điều đó cũng hàm ý: Nên coi Nhật Bản là một trong số không nhiều những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu mà hiện nay chúng ta đang có quan hệ hợp tác phát triển”.

Cuối cùng, ở phần phụ lục là những thông tin không chỉ đã liên quan trực tiếp đến quá trình thực hiện công trình nghiên cứu để biên soạn thành cuốn sách này, mà qua đó còn là những lời “tri ân” của tác giả về “Những người bạn Nhật” dù ở các cương vị nghề nghiệp xã hội khác nhau nhưng ở họ đều có chung một tình cảm, mục tiêu phấn đấu vì sự nghiệp gìn giữ hoà bình và phát triển chung của Nhật Bản, của Việt Nam, của thế giới và vì sự phát triển bền vững của quan hệ đoàn kết hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt-Nhật.

Đó cũng là tâm nguyện chung, mục tiêu chung của nhà nước và nhân dân hai nước đã được Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh và Thủ tướng Nhật Bản Taro Aso cùng nhau khẳng định lại trong “Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản” vừa được ký kết tại Tokyo, ngày 20/4/2009.

 

Các từ khóa theo tin:

Trúc Thanh

In trang | Gửi góp ý


Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Đòn sấm sét ở Điện Biên Phủ - Hỏa tiễn H6
· Khẩn trương xử lý nhóm đối tượng người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam
· Hà Nội bầu bổ sung 3 Phó Chủ tịch UBND thành phố
· Đề xuất tăng thời gian nghỉ hưu, mức đóng bảo hiểm xã hội
· Công điện của Thủ tướng về việc tăng cường bảo đảm an toàn giao thông
· Một quyết định trách nhiệm trước đất nước và nhân dân!
· Hà Nội: Bắt quả tang một cơ sở sản xuất phụ gia giả
· Giá mà Bộ trưởng Y tế thị sát sớm hơn!
· Hàn Quốc: Số người thiệt mạng trong vụ chìm tàu Sewol đã lên tới 28 người
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet