Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 21 tháng 10 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Từ thành công trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đến vận dụng tư tưởng của Người vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay
17:09 | 28/04/2005
Tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Bác đã mang về thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Câu thơ xuân “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đã vạch đường đi, nước bước để có thắng lợi hôm nay.
Đó là suy nghĩ của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp (được ghi trong hồi ký Tổng hành dinh trong mùa Xuân đại thắng) sau cuộc họp Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương ngày 30-4-1975 tại Tổng hành dinh để theo dõi và chỉ đạo cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn của năm cánh quân, buộc Dương Văn Minh tổng thống nguỵ phải đầu hàng vô điều kiện.
Từ đó thấy rõ, tư tưởng Hồ Chí Minh được quán triệt và thực hiện trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 là một bộ phận trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh về cuộc chiến tranh cách mạng chống đế quốc mà thế hệ lãnh đạo tiếp nối đã tiếp thu và vận dụng để giành toàn thắng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ta có thể tìm hiểu đôi nét về các tư tưởng đó nhằm quán triệt và vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
“Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” là sự vận dụng tư tưởng chiến lược mà đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra trong hội nghị các Đảng Cộng sản và công thân thế giới họp ở Bu-ca-rét từ tháng 7-1960, được các đảng anh em nhất trí. Đó là chiến lược đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận các thế lực đế quốc lớn mạnh, không cho chúng cụm với nhau để chống phá cách mạng. Còn bài thơ “Học đánh cờ” của Bác là một ẩn dụ rất tinh tế. Về cuộc chiến tranh cách mạng, ta thấy hầu như câu nào cũng chứa đựng tư tưởng chỉ đạo. “Tiến công, thoái thủ nên thần tốc. Chân lẹ, tài cao ắt thắng người”. Tư tưởng này đã được vận dụng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, thể hiện trong Nghị quyết Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp ngày 3l-3-1975, quyết định đòn chiến lược cuối cùng của cuộc Tổng tiến công: “Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tất hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay không để chậm. Phải hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ”. Cũng từ đó có mệnh lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh ngày 7-4-1975, gửi các đơn vị trên đường hành quân vào mặt trận: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới Mặt trận, giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng?”.
“Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ. Kiên quyết không ngừng thế tiến công. Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời, một tốt cũng thành công”. Tầm suy nghĩ sâu, cách nhìn rộng của Bộ Thống soái tối cao trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975, thể hiện nổi bật trong lời kết luận của Bí thư thứ nhất Lê Quẩn trong Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng tới các Tư lệnh chiến trường, từ 30-9-1974 đến 8-10-1974: “Lúc này chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn. Ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào khác. Nếu để chậm mươi lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược hồi phục mạnh lên, thì tình hình sẽ phức tạp vô cùng. Thời cơ này đòi hỏi phải làm nhanh, làm gọn, làm triệt để nhưng phải khôn khéo...”. Nhận rõ tầm quan trọng của yêu cầu tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ, sau khi duyệt kế hoạch cơ bản giải phóng miền Nam trong hai năm 1975- 1976, Hội nghị còn yêu cầu phải có kế hoạch tận dụng thời cơ khi nó xuất hiện: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”.
Câu thơ “Vốn trước hai bên ngang thế lực. Mà sau thắng lợi một bên giành. Tấn công, phòng thủ không sơ hở. Đại tướng anh hùng mới xứng danh” cho thấy không có những thời kỳ làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch những năm trước đó của cuộc chống Mỹ, cứu nước thì không có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Rõ ràng, sau Hiệp đánh Giơ-ne-vơ, khi chính quyền Ngô Đình Diệm hò hét “Lấp sông Bến Hải” để “Bắc tiến”, rồi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, đưa không quân và hải quân ra đánh phá hòng “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá” thì chúng đâu có yếu? Chính vì Trung ương Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo quân dân cả hai miền “tiến công, phòng thủ không sơ hở” mà cả ba chiến lược chiến tranh của Mỹ tiến hành ở miền Nam đều lần lượt bị đánh bại. ở miền Bắc, cũng do chủ động “phòng thủ” theo lời tiên đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người đến thăm Bộ Tư lệnh Phòng không- Không quân: “Ở Triều Tiên, trước khi thua, đế quốc Mỹ đã dùng không quân san phẳng Bình Nhưỡng. Sớm muộn rồi chúng cũng đem B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua”, chúng ta đã cảnh giác, đánh thắng trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ phải trở lại Pa-ri đàm phán, chấp thuận những điều kiện của ta.
Bằng sự chỉ đạo chiến lược sắc bén của Đảng, thấm nhuần tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, chúng ta đã buộc đế quốc Mỹ từ chỗ leo thang phải xuống thang chiến tranh. Trước tình hình dó, Người ra “lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Người nhấn mạnh: “hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta phải chiến đấu quét sạch nó đi. Đồng bào và chiến sĩ miền Nam anh hùng... liên tục tiến công, liên tục nổì dậy, kiên quyết tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Quân và dân miền Bắc quyết ra sức thi đua yêu nước, xây dựng CNXH và làm tròn nhiệm vụ của mình đối với đồng bào miền Nam ruột thịt, luôn luôn nâng cao cảnh giác, tự lực cánh sinh, tăng cường lực lượng sẵn sàng chiến đấu đập tan mọi âm mưu mới của địch”. Chính sự chấp hành triệt để “Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch” của cả hài miền Nam Bắc đã dẫn đến hiệu quả kết thúc thời kỳ “đánh cho Mỹ cút”, đánh dấu bằng buổi lễ cuốn cờ của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn ngày 29-3-1973. Đây là tiền đề dẫn đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Về phương thức tiến hành chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích không lên chỉ biết đánh. Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyền, giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt... Đảng phải chăm lo lãnh đạo mọi mặt, lúc đánh nhau tất cả mọi mặt phải gắn liền với nhau mới thắng được”. Tuân theo tư tưởng đó, Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 1-1975, chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã khẳng định: “Đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, kết hợp với dấu tranh ngoại giao”, “Ta đánh theo cách đánh của ta là phải chính trị quân sự kết hợp, phải là chiến lược tổng hợp với ba quả đấm. Khác đi là không thắng được”. Tuy nhiên, vận dụng chiến lược tổng hợp của chiến tranh cũng phải có trọng điểm. Đọc báo cáo chính trị tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Đảng, khi nói về cuộc trường kỳ kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định “quân sự là việc chủ chốt trong kháng chiến”. Quán triệt tinh thần đó, Hội nghị Bộ Chính trị, tháng 5-1973, bàn về vấn đề miền Nam đã quyết nghị “Phải chủ động tiến công địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và pháp lý... Tiến công quân sự bằng phản công chủ động đánh bại mọi hành động của địch”. Trong Hội nghị, nhiều Uỷ viên Bộ Chính trị nhấn mạnh: nói quân sự, chính trị song song là đúng nhưng lúc này phải biết lấy quân sự làm trụ cột, làm chỗ dựa cho đấu tranh chính trị. Tại Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, tháng 6- 1973, khẳng định cách mạng miền Nam phải tiến hành bằng con đường bạo lực, đồng chí Bí thư thứ nhất kết luận: “chiến lược của ta là chiến lược tiến công, vấn đề quân sự phải đặt lên hàng đầu. Đấu tranh chính trị lúc này phải kết hợp với đấu tranh quân sự, binh vận và pháp lý”. Đến Hội nghị Bộ Chính trị, tháng 3-1975, quyết định đòn chiến lược cuối cùng của Tổng tiến công, đã quyết nghị về phương thức tác chiến chiến lược: phát huy sức mạnh tống hợp của cả bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang ở riêng thôn và thành thị, thực hiện từ ngoài đánh vào kết hợp với lực lượng tại chỗ từ trong đánh ra, lấy chủ lực từ ngoài đánh vào là quyết định, tập trung lực lượng tiến công địch nhanh chóng, lợi dụng thời cơ, dồn dập phát triển thắng lợi.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, về mặt đảm bảo vật chất và kỹ thuật đã là sự thể hiện sâu sắc việc quán triệt tư tưởng tự lực cánh sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1968, Hồ Chí Minh đã nêu rõ quan điểm về phát triển nền khoa học, kỹ thuật của đất nước: “Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tướng, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết vấn đề do cách mạng ta đề ra, và trong thời gian không xa đạt được những đỉnh cao về khoa học và kỹ thuật”.
Trận “Điện Biên Phủ trên không” làm cho không quân địch thất bại nặng nề, phải kể đến thành tích của cán bộ, nhân viên kỹ thuật của ta rất sáng tạo trong việc thiết kế mạng ra đa và bố trí trận địa tên lửa theo lối ứng dụng; đến tinh thần tiết kiệm đạn dược của bộ dội pháo cao xạ để bất kỳ lúc nào cũng có đủ cơ số đạn đánh địch. Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, viện trợ về vũ khí, trang bị cho ta không có, trong khi đế quốc Mỹ với chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” đã để lại và bổ sung cho chế độ Sài Gòn rất nhiều vũ khí, đạn dược. Trong cuộc tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Bộ Tổng Tư lệnh rất lo thiếu vũ khí. Chỉ đến khi ta thu được nhiều kho đạn của địch, vấn đề được giải quyết ổn thoả. Trận ném bom xuồng sân bay Tân Sân Nhất của phi đội A.37 do Nguyễn Thành Trung chỉ huy là điển hình về “lấy vũ khí địch diệt địch” theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 kết thúc một thế kỷ thống trị của bọn thực dân đế quốc trên đất nước ta, nhưng hậu quả của nó thật ghê gớm. Đấy là, một đất nước bị tàn phá sau mấy chục năm chiến tranh, tình trạng nghèo nàn, lạc hậu trải dài từ Nam chí Bắc. Nhớ lời căn dặn của Hồ Chủ tịch “Nước đã độc lập mà dân chưa được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập phỏng có ý nghĩa gì”, Đảng ta đã động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung khắc phục những tình trạng đó. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã xếp “giặc đói khổ” và “giặc dốt nát” ngang hàng với “giặc ngoại xâm”, còn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu thì Người coi “tội lỗi ấy nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”. Theo tư tưởng ấy, chống nạn “nghèo nàn, lạc hậu” của dân tộc Việt Nam ngày nay cũng cần được coi như trận chiến đấu mới của toàn Đảng, toàn dân, mà tính chất “trường kỳ, gian khổ, nhất định thắng lợi” cũng chẳng kém cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ. Kiên quyết không ngừng thế tiến công”. Cuộc tiến công xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu ở Việt Nam tất cũng phải quán triệt tư tưởng “tự lực cánh sinh”, dựa vào sức mình là chính, đi đôi với tranh thủ sự giúp đỡ của anh em, bè bạn toàn thế giới, nay trở thành quan điểm vừa phát huy nội lực, vừa tranh thủ vốn đầu tư, hợp tác của nước ngoài, đã và đang đạt được những kết quả hết sức quan trọng. Về chiến lược, tất phải vận đụng phương châm “đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận” những nguy cơ do địch gây ra và những nguy cơ do yếu kém của bản thân ta, theo chiến lược tổng hợp mọi sức mạnh cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...
Theo chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, có thể coi bước đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2010 là một “giai đoạn chiến lược” của “cuộc chiến”; bước đưa nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 là một “giai đoạn chiến lược” thứ hai để tiến tới mục tiêu chiến lược “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Những chỉ tiêu đó là rất nặng nếu ta đi sâu phân tích nội dung của khái niệm, đối chiếu với tổng số thời gian còn lại. Khái niệm “nước kém phát triển” và “nước công nghiệp theo hướng hiện đại” đều là những khái niệm mang hàm nghĩa so sánh với các nước trong vùng và trên thế giới. Trong khi ta phát triển thì các nước khác cũng tiếp tục đi lên. Đến năm 2010, nếu ta không theo kịp, thậm chí có vượt qua các nước trong vùng (hiện nay) thì ta vẫn cứ là nước kém phát triển. Đến năm 2020, nếu các nước công nghiệp đã ứng dụng công nghệ tin học một cách phổ biến mà ta vẫn ở trình độ công nghệ cơ khí thì cũng chưa tự coi mình là nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Từ nay đến đó, bước thứ hai chỉ còn 15 năm, bằng nửa thời gian tính từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đến nay.
Từ nay đến các thời hạn đó, các “đối tượng tác chiến chiến lược” mà ta phải “kiên quyết không ngừng thế tiến công”, trước hết là “nguy cơ tham nhũng, quan liêu”. Nguy cơ này được đề cập đến nay đã trải qua ba rthiệm kỳ Đại hội Đảng, sắp tới nhiệm kỳ thứ tư nhưng xem ra “đối tượng” đó chưa bị đẩy lùi bao nhiêu, chưa nói đến bị đánh bại. Hơn nữa các thủ đoạn của nó còn phát triển tinh vi hơn và táo tợn hơn. Không thể đi vào chuyên đề này bằng một bài về chiến lược chung, nhưng ít nhất về mặt xây dựng Đảng phải kiên quyết tiến tới chi bộ đảng không được phép có “đảng viên tham nhũng, bị truy tố, phải ra hầu toà”, tự hạ mình xuống mức thấp hơn quần chúng bình thường, đừng nói gì đến tính tiên phong để quần chúng noi theo. Đành rằng các nước phát triển và các nước công nghiệp hiện đại cũng không phải đã quét sạch tham nhũng, nhưng ở nước ta hiện nay, tệ nạn ấy làm suy giảm nghiêm trong lòng tin của quần chúng đối với đội tiên phong lãnh đạo cách mạng, gây trở ngại cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Chúng ta không theo chủ nghĩa “trừng phạt”, nhưng bài học do Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại trong việc xử lý “vụ Trần Dụ Châu” cần được học tập nghiêm túc.
Để thực hiện tốt phương châm “lấy xây dựng kinh tế làm nhiệm vụ trung tâm, lấy xây dựng Đảng làm nhiệm vụ then chốt”, đối tượng, tiếp theo phải kiên quyết tiến công là sự lộng hành của hàng lậu, hàng giả cộng với những yếu kém về quản lý của ta đang làm cho sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam còn rất thấp khi gia nhập kinh tế thị trường. Chỉ cần quan tâm đời sống hằng ngày cũng dủ thấy tình trạng hàng hoá của ta đang bị “thua trên sân nhà” khá rõ chứ chưa nói đến “sân khách”. Trong khi cuộc sống thời bình của nhân dân đang đòi hỏi rất nhiều nhu yếu phẩm các loại để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần thì nhìn đâu ta cũng thấy hàng ngoại. Một xã hội tiêu thụ đang hình thành mà nguồn cung cấp chủ yếu là hàng hoá nước ngoài, phần lớn không phải hàng nhập qua cửa khẩu mà là hàng lậu thuế. Hàng hoá được tiêu thụ ngày càng nhiều, không chỉ ở thành phố mà cả ở nhiều vùng nông thôn đang “điện khí hoá” khá nhanh. Sản xuất hàng hoá nước ta muốn sớm thoát nguy cơ “tụt hậu xa hơn với các nước trong vùng” thì không được coi thường thị trường nội địa với 80 triệu dân, một lĩnh vực thị phần không thể đánh mất. Đối với nền sản xuất hàng hoá trong nước mới được tạo dựng, đối tượng gây nguy hại nhất chính là nạn hàng giả, hàng lậu, trong khi cơ chế quản lý còn không ít thủ tục rườm rà. Với một đất nước dài và hẹp, lại có vùng “biên giới mở” rất khó kiểm soát, hàng trốn thuế có thể thâm nhập đủ mọi phía, bóp chết hàng hoá trong nước, từ chiếc ti vi, xe máy, điện thoại, bếp ga, nồi cơm điện đến hoa quả, bánh kẹo, đồ chơi trẻ em... Thuế nhập khẩu bị thất thu, hàng trong nước không đủ sức cạnh tranh trừ dăm bảy thương hiệu có sản phẩm chất lượng cao trong hàng trăm mật hàng đáp ứng nhu cầu (về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, công tác) của mọi tầng lớp nhân dân. Chỉ trong một vài năm nữa, khi những thỏa thuận của khu vực mậu dịch tự do ASEAN, (AFTA) và tổ chức thương mại thế giới (WTO) có giá trị với ta, nếu các mặt hàng nội địa cứ tiếp tục bị các “đối thủ”; ngáng chân không thể tiến lên được thì tình trạng “thua trên sân nhà” và trên thị trường khu vực sẽ càng lộ rõ. Bởi vậy, với tinh thần “kiên quyết không ngừng thế tiến công” của mùa Xuân toàn thắng 1975, cần kịp thời tận dụng thời gian còn lại, dẹp bỏ càng nhanh càng tốt những trở lực đang ngáng trở nền sản xuất hàng hoá non trẻ của đất nước, khiến nó không đủ thế và lực để đương đầu với cuộc cạnh tranh khốc liệt trong cơ chế thị trường. Đối tượng thứ ba cần kiên quyết tiến công là các tệ nạn xã hội và tội phạm, đứng đầu là nạn ma tuý, mại dâm... đang đe đoạ tiền đồ của một bộ phận thanh niên nam, nữ, vốn là chủ lực của các lực lượng sản xuất xã hội đang cần được động viên cho sự nghiệp CNH,HĐH.
Đó là “những việc cần làm ngay”, còn việc làm thường xuyên, lâu dài là phải tạo lập được “thế trận lòng dân” vững chắc, xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh . Việc này cần làm một cách kiên quyết, bền bỉ, giàu tính thuyết phục, sao cho mọi tầng lớp nhân dân, mọi ngành nghề liên kết chặt chẽ, toàn diện với nhau, phát huy mọi khả năng tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất, đáp ứng kịp thời mọi tình huống, cả thời bình và thời chiến, thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ, cách bốn tháng trước khi Người “đi xa”. Đó là: “Phải xây dựng lực lượng thật tốt, chất lượng thật cao. Luôn luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giỏi... Chú ý tiết kiệm sức người, sức của, giữ gìn thật át vũ khí, trang bị”. Với phương châm “trong ấm, ngoài êm”, quán triệt quan điểm chỉ đạo: “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với CNXH, lấy việc giữ vững môi trường hoà bình ổn định để phát triển kinh tế-xã hội là lơi ích cao nhất của dân tộc” của Nghị quyết Trung ương Tám khoá IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, toàn quân, toàn dân ta thấm nhuần tư tưởng bảo vệ hoà bình, vì hoà bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác đã từng căn dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi cần giữ vững hoà bình: “Phải hết sức tránh khiêu khích, không để xảy ra xung đột... Nếu xảy ra xung đột thì biến xung đột lớn thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không có xung đột”. Quan điểm đối ngoại sau khi nước nhà giành được độc lập (8-1945) cũng được Người nói rõ trong khi trả lời phỏng vấn của một nhà báo Mỹ, đại để rất hoan nghênh bất kỳ nước nào, kể cả các nước tư bản đến giúp Việt Nam kiến thiết đất nước hoà bình, độc lập, đôi bên cùng có lợi; còn cương quyết cự tuyệt nước nào đưa tư bản đến để ràng buộc, áp chế Việt Nam. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại là chìa khoá của hoà bình trong điều kiện quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay. Để giữ vững môi trường hoà bình, ổn định cho đất nước xây dựng và phát triển, cần liên kết chặt chẽ ba ngành lại với nhau, hỗ trợ nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ.
Tư tưởng Hồ Chí Minh được quán triệt và thực hiện trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 không thể tách rời hệ tư tưởng của Người chỉ đạo toàn bộ cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc để có một mùa xuân đại thắng. Trong cuộc chiến đánh bại nghèo nàn, lạc hậu, với lực lượng mới, vị thế mới, thời cơ mới, kẻ thù thu hẹp, bè bạn tăng thêm, ta hoàn toàn đủ điều kiện để vận dụng sáng tạo những tư tưởng Hồ Chí Minh, như đã vận dụng thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trong mùa Xuân 1975 lịch sử, giành lấy những mục tiêu chiến lược về bước phát triển của đất nước, thực hiện lời di chúc thiêng liêng “Còn non còn nước, còn người. Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

Theo Thiếu tướng, Giáo sư Bùi Phan Kỳ, Tạp chí Quốc phòng toàn dân tháng 4/2005


Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Đại tướng Văn Tiến Dũng - vị Tư lệnh chiến dịch (01/05/2005)
Đồng chí Nguyễn Thị Định trong những ngày Bến Tre đồng khởi (01/05/2005)
Đồng chí Phạm Hùng, một người lãnh đạo cao nhất trên chiến trường miền Nam (*)... (01/05/2005)
Việt Nam - 30 năm vươn mình đứng dậy (01/05/2005)
Đại thắng mùa Xuân 1975 – Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử (28/04/2005)
Sức mạnh chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (28/04/2005)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Một số bài học về công tác tư tưởng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (28/04/2005)
Chiến tranh nhân dân địa phương chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (27/04/2005)
Phương thức tác chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nhìn từ Đại thắng mùa Xuân 1975 (27/04/2005)
Nhân tố chính trị, tinh thần - nét đặc sắc trong nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam (27/04/2005)
Đại thắng mùa Xuân 1975 - đỉnh cao của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam (27/04/2005)
Chiến thắng 30/4 mang ý nghĩa lịch sử thế giới (26/04/2005)
30 năm xây dựng và phát triển của một địa phương anh hùng (25/04/2005)
Rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội quân bách thắng (23/04/2005)
Nghệ thuật kết hợp thời, thế, lực (22/04/2005)
Thành phố Hồ Chí Minh
30 năm vì cả nước, cùng cả nước xây dựng CNXH (21/04/2005)
 Trang 1 / 3 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet