Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 28 tháng 8 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  bandoc.dcsvn@gmail.com
thuky.dcsvn@gmail.com
Chiến tranh nhân dân địa phương chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
08:54 | 27/04/2005
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, chiến tranh nhân dân địa phương giữ vị trí vai trò vô cùng quan trọng; vừa là phương thức tiến hành chiến tranh, vừa là phương thức đấu tranh cách mạng, là nghệ thuật tổ chức vũ trang quần chúng tham gia đánh giặc và đấu tranh toàn diện với giặc.
Ba mươi năm nhìn lại, bài viết muốn làm rõ một số vấn đề về chiến tranh nhân dân địa phương trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975; qua đó trình bày một số suy nghĩ về sự vận dụng chiến tranh nhân dân địa phương trong điều kiện mới.
1. Chiến tranh nhân dân địa phương trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
- Chiến tranh nhân dân địa phương năm 1973-1974.
Trước tình hình phát triển của chiến trường, Hội nghị lần thứ 21 BCHTƯ Đảng họp tháng 7/1973 đề ra phương châm: “Kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao”. Hội nghị xác định: “Vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản trong giai đoạn mới ...”; “Cách mạng Việt Nam có thể phải trải qua nhiều bước quá độ và chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường bạo lực cách mạng- tiến hành khởi nghiã dựa vào lực lượng chính trị và lực lượng quân sự ...”
Tại Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (ngày 18/12/1974 đến ngày 8/1/1975), Bộ Chính trị chỉ đạo: “Phải nắm vững quy luật cơ bản của cách mạng nước ta là kết hợp quân sự và chính trị, tiến công và nổi dậy, chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang; phát huy cho được sức mạnh tổng hợp của tiến công quân sự, tiến công chính trị, tiến công binh vận, kết hợp với tiến công ngoại giao”.
Quán triệt tinh thần Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương và Hội nghị Bộ Chính trị, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các chiến trường đẩy mạnh hoạt động thực hiện các đợt tiến công và nổi dậy, giữ vững và phát triển thế chủ động chiến lược làm chuyển biến cục diện chiến trường tạo điều kiện cho tiến công lớn, rộng khắp trong năm 1975. Thực hiện sự chỉ đạo, các địa phương, đơn vị từ Trị Thiên đến Tây Nam Bộ và vùng ven Sài Gòn-Gia Định, từ tháng 4/1974 đến tháng 10/1974 đều hoạt động mạnh lên, phản công và tiến công địch liên tục; nhiều nơi phá đựơc kế hoạch bình định của địch, giữ vững được vùng giải phóng và các căn cứ của ta trong vùng địch kiểm soát; mở rộng thêm vùng giải phóng, dồn địch vào thế lúng túng, bị động đối phó. Một mặt, chúng ta gấp rút chuẩn bị một lực lượng lớn bộ đội chủ lực và trang bị vũ khí hiện đại ...; mặt khác, chỉ đạo triển khai hệ thống đường giao thông, chuẩn bị lương thực, thực phẩm. Giữa lúc quân dân miền Nam đánh địch và gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho đánh lớn, ở miền Bắc từ các bản làng, khu phố, cơ quan, trường học, xí nghiệp... hàng vạn thanh niên nô nức nhập ngũ lên đường ra mặt trận. Những tháng cuối năm 1974, ở Khu 9 lực lượng vũ trang cùng nhân dân các địa phương đã phối hợp với bộ đội chủ lực đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, xoá hơn 2.000 đồn bốt địch, giải phóng hơn 400 ấp với gần 800.000 dân. Ở Khu 8, xoá hơn 800 đồn bốt địch, giải phóng thêm hơn 200 ấp, với hơn 130.000 dân. Ở Khu 7, duy trì thế tiến công địch giữ vững bàn đạp phía bắc Sài Gòn. Vùng ven Sài Gòn đẩy mạnh các mặt đấu tranh giữ vững các lõm giải phóng. Ở Khu 5, chuyển lên thế tiến công mạnh mẽ, mở rộng bàn đạp vùng giáp ranh, đẩy mạnh đánh phá địch ở đồng bằng, xoá gần 800 đồn bốt, giải phóng 250 ấp với 200.000 dân. Ở Trị Thiên, chống “bình định” ở đồng bằng ngày càng có kết quả tốt.
Những hoạt động của các tỉnh, thành phố cuối năm 1973 và 1974 tuy không đồng đều và mức độ thắng lợi khác nhau, nhưng đã tạo nên kết quả to lớn có ý nghĩa quan trọng, góp phần làm suy yếu, phân tán quân địch, tạo thế có lợi cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
- Chiến tranh nhân dân địa phương trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Khi ta mở chiến dịch Tây Nguyên, các tỉnh trên địa bàn đã huy động 7 vạn dân vùng giải phóng, ngày đêm phục vụ chiến dịch như: tham gia làm đường, sửa đường, vận chuyển vũ khí, lương thực, thực phẩm, dẫn đường. Huy động gần 100 tự vệ và cơ sở mật trong thị xã Buôn Ma Thuột ra ngoại ô đón và dẫn đường cho các đơn vị bộ đội chủ lực đánh vào thị xã.
Khi Quân đoàn 2 tiến công địch trên hướng tây nam Huế, ở đồng bằng 7 tiểu đoàn địa phương cùng với 100 đội vũ trang đã thọc xuống vùng sâu, cùng lực lượng vũ trang tại chỗ và nhân dân trong 8 huyện đồng loạt nổ súng tiến công tiêu diệt địch. Nắm vững thời cơ, phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, ngày 19/3 các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Quảng Trị đã buộc địch phải co về phòng ngự tuyến nam sông Mỹ Chánh. Quá trình bộ đội chủ lực tiến công truy kích địch, hầu hết các địa phương, quần chúng đứng lên phối hợp hành động như: dẫn đường, chỉ nơi địch chạy trốn, giúp đỡ bộ đội vượt sông, diệt bắt tề, điệp, ác ôn ...
Trên hướng Quảng Ngãi, ngày 24-25/3, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh phối hợp với Sư đoàn 2 Quân khu 5 tiến công làm tan rã trung đoàn 4 và 5 thuộc Sư đoàn 2 nguỵ, cùng nhân dân tiến công và nổi dậy giải phóng phía bắc tỉnh, sau đó phát triển giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Ngãi.
Ở thành phố Đà Nẵng, phối hợp với chủ lực tiến công ngày 27-28/3, nhân dân ở nội, ngoại thành nhiều nơi đã tổ chức nổi dậy. Phần lớn các thôn, xã vùng ven và một số khu phố, khối phố trong nội đô giành được chính quyền. Sáng 29/3, phối hợp với bộ đội chủ lực từ ngoài đánh vào, nhân dân nội thị nổi dậy và dùng mọi phương tiện chở bộ đội tiến nhanh vào thành phố, chiếm giữ các kho tàng, công sở của địch.
Khi Sư đoàn 968 và Sư đoàn 3 Quân khu 5 tiến công tiêu diệt Sư đoàn 22 nguỵ ở Phú Phong, Lai Nghi, Phù Cát, thì nhân dân thị xã Quy Nhơn nổi dậy cùng lực lượng vũ trang địa phương giải phóng thị xã, bán đảo Phước Lý, Phước Hải làm cho tàu địch không dám vào bốc quân rút chạy.
Khi bộ đội chủ lực ta tiến công thị xã Phan Rang, sân bay Thành Sơn, cảng Ninh Chử, thị xã Phan Thiết, quân và dân Ninh Thuận, Bình Thuận đã phối kết hợp tiến công và nổi dậy bao vây, bức hàng, bắt sống toàn bộ nguỵ quân, nguỵ quyền giải phóng quê hương.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh:
Trong cách đánh chiến dịch Hồ Chí Minh xác định: các lực lượng đặc công, biệt động, lực lượng an ninh vũ trang và tự vệ thành phố; lực lượng chính trị của quần chúng ở Sài Gòn-Gia Định sẽ đánh chiếm trước các cầu, các bàn đạp để bộ đội chủ lực tiến quân, dẫn đường cho các đơn vị, trừ gian, phát động quần chúng nổi dậy. Đi đôi với xác định kế hoạch tổng công kích, Bộ chỉ huy chiến dịch xây dựng kế hoạch nổi dậy của quần chúng, phối hợp giữa tiến công quân sự và lực lượng chính trị nổi dậy (kế hoạch được triển khai đến phường, xóm, các cơ sở chính trị, binh vận của ta trong thành phố), trong bộ máy kìm kẹp vô cùng chặt chẽ của địch. Đến trước ngày nổ súng, ta đã giáo dục sâu rộng trong các lực lượng, tôn giáo, tư sản, ngoại kiều trong nguỵ quân và nhân viên nguỵ quyền.
Đợt 1 chiến dịch, trên toàn chiến trường đã phát động quần chúng nổi dậy phá kìm kẹp, gỡ đồn bốt giải phóng xã, ấp bằng 3 mũi giáp công.
Phối hợp với chiến trường, ở nông thôn đồng bằng từ cuối tháng 12/1974 nhân dân phối hợp với du kích, bộ đội địa phương đánh nhiều trận, diệt nhiều địch, bắt sống nhiều tù binh, bắn cháy nhiều xe quân sự, bắn rơi nhiều máy bay, thu nhiều súng, giải phóng hàng nghìn dân, phá lỏng kìm kẹp, diệt ác ôn, nhiều nơi địch không kiểm soát nổi, phong trào đấu tranh của quần chúng ngày một lên cao và phát triển rộng rãi. Đến tháng 3/1975 binh lính địch đảo ngũ ngày càng nhiều, thế kìm kẹp của địch bị phá vỡ từng mảng ...
Ở Đồng Nai, nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương huyện Long Thành và Nhân Trạch phối hợp với Đoàn 10 diệt 400 lính bảo an, đánh tan rã bộ máy kìm kẹp của địch; du kích và nhân dân đã bao vây nhiều đồn bốt và làm chủ hoàn toàn đường 10. Tại huyện Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, thị xã Long Khánh đã tổ chức vây ép bức hàng nhiều đồn địch. Các địa phương đều thực hiện phương châm huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã... kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy và làm chủ của quần chúng nhân dân để tự giải phóng. Tại thành phố Biên Hoà, quần chúng phối hợp với tự vệ, biệt động, nổi dậy đánh chiếm công sở, nhà máy bảo vệ tài sản ...
Tại vùng đô thị Sài Gòn-Gia Định, Thành uỷ thực hiện chủ trương kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị của quần chúng bằng 3 mũi giáp công, phá lỏng kìm kẹp của địch từ cơ sở, xoá các “ấp trắng”, giành quyền chủ động xây dựng các lõm chính trị liên hoàn từ nội đô đến vùng ven.
Từ cuối 1974 đầu 1975, lực lượng vũ trang địa phương Sài Gòn-Gia Định tập trung đánh địch lấn chiếm bình định, đánh phá giao thông, vũ trang tuyên truyền, diệt ác phá kìm; phát động hỗ trợ quần chúng đấu tranh đẩy địch vào thế co cụm. Phong trào phát triển phần lớn các ấp có cơ sở chính trị, ở nội đô lực lượng biệt động, tự vệ, du kích mật đánh mạnh vào chính quyền cơ sở, phá vỡ kìm kẹp của địch. Phong trào của các tổ chức hoà bình, dân chủ tiến bộ đòi Thiệu phải từ chức, đòi thi hành Hiệp định Pari, thả tù chính trị, chấm dứt chiến tranh. Phong trào đấu tranh của nhân dân đã dồn địch vào thế khó khăn, cô lập. Kết quả tiến công quân sự và đấu tranh chính trị đã củng cố vững chắc vùng xung quanh Sài Gòn-Gia Định, làm lỏng thế kìm kẹp và gây rối loạn hậu phương địch, tạo thêm những địa bàn đứng chân quan trọng cho lực lượng chủ lực ta triển khai lực lượng.
Theo chỉ đạo của chiến dịch, lực lượng vũ trang Thành phố có nhiệm vụ phối hợp với chủ lực các cánh, các hướng đánh chiếm và giữ các cầu quan trọng, không để địch phá khi rút chạy, chế áp các trận địa pháo địch, sân bay Tân Sân Nhất, chiếm các bàn đạp, mở đường và dẫn đường cho chủ lực đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy. Lực lượng chính trị có nhiệm vụ kết hợp với lực lượng vũ trang, phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền từ cơ sở.
Ở Khu 8 và Khu 9, từ đầu tháng 4/1975 Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền ra chỉ thị cho Mặt trận đồng bằng sông Cửu Long chuẩn bị gấp cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa, phối hợp với Mặt trận Sài Gòn-Gia Định. Chỉ thị quy định: đồng loạt tiến công và nổi dậy từ ngày 29/4, lấy phương châm tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã và khu giải phóng khu bằng lực lượng của mình. Toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long đã tiến công và nổi dậy theo đúng kế hoạch. Từ đầu mùa khô, các lực lượng vũ trang cùng với nhân dân đánh phá bình định của địch ở toàn miền, liên tiếp tiến công và nổi dậy cho đến trước chiến dịch Hồ Chí minh; từ đó tạo ra thế và lực mới, vùng giải phóng được mở rộng, vùng kiểm soát của địch bị thu hẹp, làm suy yếu lực lượng Quân đoàn 4 nguỵ, lực lượng dự trữ bị suy yếu. Lực lượng vũ trang ta được tăng cường và triển khai áp sát các mục tiêu quan trọng, lực lượng chính trị phát triển, quần chúng được tổ chức sẵn sàng nổi dậy.
Khi chiến dịch Hồ Chí Minh chuyển sang giai đoạn tổng công kích vào nội thành Sài Gòn, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ phối hợp với bộ đội chủ lực bao vây Mỹ Tho, Cần Thơ, cắt đứt đường 4 trên nhiều đoạn. Sau khi Sài Gòn giải phóng, bộ đội địa phương, dân quân du kích đồng bằng sông Cửu Long phối hợp với chủ lực đồng loạt tiến công, kết hợp với hàng chục nghìn quần chúng nổi dậy giải phóng thành phố, thị xã, chiếm các căn cứ quân sự, các quận lỵ, chi khu và toàn bộ đồn bốt, tiêu diệt và buộc các đơn vị quân khu 4 nguỵ nộp vũ khí đầu hàng; đánh đổ hoàn toàn nguỵ quyền từ cấp tỉnh đến xã, giải phóng đồng bằng Nam Bộ và các đảo. Phát huy kết quả chiến thắng trong đất liền, các chiến sỹ yêu nước ở đảo Côn Sơn nổi dậy tự giải phóng đảo.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thành quả đạt được là cả quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ của quân và dân ta. Chúng ta đã vận dụng nhuần nhuyễn các quy luật của chiến tranh cách mạng, biết phát huy sức mạnh của toàn dân, kết hợp chặt chẽ các hình thức đấu tranh, các thứ quân, chủ lực với địa phương, giữa chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực cơ động, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để thắng địch. Đây là bài học to lớn có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng, để chúng ta tiếp tục nghiên cứu vận dụng và phát huy trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.
2. Vận dụng và phát triển chiến tranh nhân dân địa phương trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
Nhân dân ta luôn khao khát được sống trong hoà bình. Chúng ta đang tập trung xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, trong đó có xây dựng sức mạnh quốc phòng-an ninh. Tuy nhiên, xây dựng quốc phòng-an ninh mạnh là để ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh. Trong điều kiện nào đó, phải tiến hành chiến tranh để tự vệ, chúng ta phải phát huy kinh nghiệm truyền thống của dân tộc để tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, trong đó lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc (nếu xẩy ra) sẽ có nhiều đặc điểm, yêu cầu mới khác với chiến tranh giải phóng; nhưng chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh bằng phương thức chiến tranh nhân dân địa phương kết hợp với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực.
Vận dụng phát triển phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương trong giai đoạn mới, chúng ta đang thực hiện chủ trương xây dựng các tỉnh (thành phố) thành các khu vực phòng thủ vững chắc; khi xẩy ra chiến tranh, đây sẽ là nơi tổ chức tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương. Khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) được xây dựng từ thời bình và ngày càng vững chắc, điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ngày càng vững mạnh, các khu vực tỉnh (thành phố) ngày càng có thực lực và tiềm lực lớn. Do đó, vị trí, vai trò quan trọng của chiến tranh nhân dân địa phương bảo vệ Tổ quốc được thể hiện ở một số vấn đề chủ yếu sau:
- Chiến tranh nhân dân địa phương kịp thời phát hiện và đối phó có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn bạo loạn lật đổ của địch từ bên trong để phối hợp với địch tiến công từ ngoài vào.
Địch đã và đang tích cực xây dựng lực lượng phản động chống phá ta trên nhiều lĩnh vực; “diễn biến hoà bình” và khi tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta chúng sẽ sử dụng lực lượng này làm nòng cốt, gây bạo loạn từ bên trong để hỗ trợ và phối hợp với tiến công từ ngoài vào. Lực lượng thế trận của các khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) được xây dựng vững mạnh và rộng khắp, địch có âm mưu bạo loạn bất cứ ở nơi nào, với thủ đoạn gì, ta đều có khả năng phát hiện từ khi chúng chuẩn bị đến thực hành tổ chức thực hiện. Với khả năng lực lượng tổng hợp của các khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) như hiện nay và trong tương lai gần, có đủ khả năng huy động lực lượng để đấu tranh dập tắt các vụ bạo loạn từ ngay cơ sở địa phương mình, tạo điều kiện và phối hợp với bộ đội chủ lực của Bộ, các quân khu đánh bại quân địch tiến công xâm lược.
- Chiến tranh nhân dân địa phương có khả năng ngăn chặn, tiêu hao, kìm chân, phân tán, làm chậm tốc độ tiến công của địch góp phần quan trọng làm cho địch sa lầy.
Tiến hành chiến tranh xâm lược, kẻ địch nào cũng tập trung lực lượng lớn muốn đánh nhanh, thắng nhanh và sợ sa lầy, tiêu hao tổn thất. Muốn đạt được yêu cầu trên, chúng phải nhanh chóng đánh bại được lực lượng và phá vỡ thế trận của ta. Trong khi đó, ngay từ thời bình thế trận của các khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) được xây dựng từ mỗi cơ sở xã, phường, làng bản, khu phố, xóm ấp ngày càng vững chắc “mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sỹ”. Lực lượng ở các địa phương được tổ chức đông đảo, với bộ đội địa phương tỉnh, huyện, dân quân tự vệ, bộ đội biên phòng, công an nhân dân làm nòng cốt đánh địch từ cơ sở đến huyện, tỉnh. Với lực lượng và thế trận được tổ chức của các khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) như vậy, chiến tranh nhân dân địa phương có khả năng kịp thời phát hiện và đánh trả địch từ bất cứ hướng nào, nơi nào, lúc nào. Phải đối phó với lực lượng, thế trận đó, buộc địch phải phân tán đối phó, lực lượng bị tiêu hao, tốc độ tiến công chậm và dẫn tới sa lầy. Như vậy, chiến tranh nhân dân địa phương có khả năng góp phần quan trọng để đánh bại âm mưu, thủ đoạn của địch muốn tập trung lực lượng đánh nhanh, thắng nhanh và hạn chế tổn thất, thương vong.
- Chiến tranh nhân dân địa phương là chỗ dựa, nơi phối hợp với bộ đội chủ lực tác chiến.
Phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương và phương thức chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong một thể thống nhất. Phương thức chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực phụ thuộc quan trọng vào kết quả của phương thức chiến tranh nhân dân địa phương. Phương thức chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực sẽ phát huy tốt khi phương thức chiến tranh nhân dân địa phương luôn chủ động đánh địch, đánh địch kịp thời, tiêu hao, ngăn chặn, làm chậm tốc độ tiến công của địch; phân tán, bao vây cô lập được địch và có sự phối hợp tác chiến tốt của phương thức chiến tranh nhân dân địa phương. Khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) được xây dựng vững chắc, khi xẩy ra chiến tranh là chỗ dựa cho bộ đội chủ lực; các khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) thường sẽ là lực lượng đánh trước, làm cho địch bị tiêu hao, phân tán, mệt mỏi rơi vào thế bị chặn, bị bao vây, chia cắt. Đó là điều kiện thuận lợi cho phương thức chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực vào tác chiến bí mật, bất ngờ tập trung lực lượng thực hiện cách đánh của mình. Bước vào tác chiến, bộ đội chủ lực có thể dựa vào thế trận của các khu vực phòng thủ địa phương đã được xây dựng như: hệ thống công sự trận địa chiến đấu rộng khắp, các khu vực phòng thủ then chốt, căn cứ chiến đấu, hệ thống đường cơ động, hệ thống thông tin liên lạc ...
- Phương thức chiến tranh nhân dân địa phương, nơi tổ chức nhân dân trực tiếp tác chiến, đấu tranh toàn diện với địch, nơi duy trì sản xuất bảo đảm mọi mặt cho kháng chiến.
Với hệ thống chính trị được xây dựng từ thời bình ngày càng vững mạnh, trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc (nếu xẩy ra), kế thừa kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chúng ta có thể tổ chức, huy động đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia chiến đấu và đấu tranh với địch toàn diện trên các lĩnh vực: tổ chức đấu tranh phản đối chiến tranh phi nghĩa, tố cáo tội ác của địch, chống biểu tình, bạo loạn bằng các hình thức khác nhau... Ngày nay, thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, kinh tế ngày càng phát triển, cơ sở vật chất ngày càng dồi dào, khả năng sản xuất công nghiệp ngày càng phát triển; các địa phương có khả năng sản xuất lương thực, thực phẩm, phương tiện kỹ thuật, vũ khí trang bị bảo đảm cho quốc phòng, đáp ứng nhu cầu chiến đấu, sinh hoạt của địa phương và bảo đảm cho bộ đội chủ lực tác chiến trên địa bàn.
Nghiên cứu chiến tranh nhân dân địa phương trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 cho thấy những kinh nghiệm vô cùng quý báu về xây dựng lực lượng cách mạng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân và sự kết hợp giữa chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực. Từ những kinh nghiệm ấy, chúng ta cần tập trung nghiên cứu, vận dụng trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó, từng bước xây dựng lực lượng, thế trận trong quá trình xây dựng đất nước; đảm bảo cho đất nước luôn chủ động đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của địch bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại tá Nguyễn Văn Thắng, Tạp chí Nghệ thuật quân sự Việt Nam


Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Đại tướng Văn Tiến Dũng - vị Tư lệnh chiến dịch (01/05/2005)
Đồng chí Nguyễn Thị Định trong những ngày Bến Tre đồng khởi (01/05/2005)
Đồng chí Phạm Hùng, một người lãnh đạo cao nhất trên chiến trường miền Nam (*)... (01/05/2005)
Việt Nam - 30 năm vươn mình đứng dậy (01/05/2005)
Đại thắng mùa Xuân 1975 – Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử (28/04/2005)
Sức mạnh chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (28/04/2005)
Từ thành công trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đến vận dụng tư tưởng của Người vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay (28/04/2005)
Một số bài học về công tác tư tưởng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (28/04/2005)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Phương thức tác chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nhìn từ Đại thắng mùa Xuân 1975 (27/04/2005)
Nhân tố chính trị, tinh thần - nét đặc sắc trong nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam (27/04/2005)
Đại thắng mùa Xuân 1975 - đỉnh cao của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam (27/04/2005)
Chiến thắng 30/4 mang ý nghĩa lịch sử thế giới (26/04/2005)
30 năm xây dựng và phát triển của một địa phương anh hùng (25/04/2005)
Rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội quân bách thắng (23/04/2005)
Nghệ thuật kết hợp thời, thế, lực (22/04/2005)
Thành phố Hồ Chí Minh
30 năm vì cả nước, cùng cả nước xây dựng CNXH (21/04/2005)
Đường Hồ Chí Minh - một kỳ tích của ý chí Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (20/04/2005)
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo chiến lược sắc bén, huy động sức mạnh cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước (20/04/2005)
 Trang 1 / 3 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp mặt đại biểu Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương
· Hoạt động của Đặc phái viên Lê Hồng Anh tại Trung Quốc
· Đoàn kiểm tra của Bộ Chính trị làm việc tại Thanh Hóa về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI)
· Hà Nội: Khẩn trương rà soát, làm rõ chức năng của Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ phẫu thuật nụ cười
· Xuất cấp 772 tấn gạo hỗ trợ tỉnh Ninh Thuận
· Việc đổi tên cầu Nhật Tân phải làm đúng theo quy trình
· Đồng chí Đồng Văn Thanh được bầu làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang
· Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục kiến thức quốc phòng – an ninh
· Từ 15/9, triển khai tiêm vắc xin sởi-rubela cho trẻ từ 1-14 tuổi
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : thuky.dcsvn@gmail.com
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet