Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 26 tháng 11 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Nghệ thuật kết hợp thời, thế, lực
09:18 | 22/04/2005
Sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta trong mùa xuân năm 1975 là sự tiếp nối sự lãnh đạo, chỉ đạo đó trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Xét đến cùng, đó là nghệ thuật tạo thời cơ chiến lược, tạo thế trận chiến lược và tạo lực lượng chiến lược trong suốt cuộc chiến tranh và đến giai đoạn kết thúc chiến tranh. Nghệ thuật đó là sự phát triển của nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang toàn dân và chiến tranh toàn dân lên một trình độ mới.
Thời cơ mùa xuân 1975 không giống với thời cơ cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Ở tháng 8 năm 1945, thời cơ xuất hiện khi kẻ thống trị Đông Dương bại trận phải đầu hàng, còn lực lượng đế quốc tiếp nhận sự đầu hàng, chưa vào Đông Dương kịp, do đó xuất hiện một khoảng trống quyền lực mà Đảng ta đã lợi dụng một cách tài tình. Còn thời cơ mùa xuân 1975 là thời cơ nảy sinh do sự nỗ lực chủ quan của ta nhằm tạo ra những thay đổi cơ bản có lợi cho ta trong cán cân so sánh lực lượng giữa ta và Mỹ. Một cuộc chiến tranh sẽ kết thúc khi kẻ bại bị đập tan tiềm lực kinh tế và quân sự hoặc tiềm lực chưa bị đập tan nhưng có nhiều nguyên nhân mà ý chí bị tan rã phải chịu thua. Kháng chiến chống Mỹ, chúng ta không đập tan tiềm lực kinh tế và quân sự của Mỹ mà là nhằm đập tan ý chí xâm lược của Mỹ. Đó là một mục tiêu chiến lược lựa chọn đúng. Đối với một đế quốc mạnh như Mỹ thì để đập tan chí xâm lược của Mỹ, cuộc kháng chiến của quân dân ta phải trải qua đấu tranh lâu dài gian khổ mới tạo được thời cơ kết thúc chiến tranh. Trên thực tế, Mỹ đã xoay đủ cách, từ chiến lược này đến chiến lược khác, từ “chiến tranh đặc biệt” đến “chiến tranh cục bộ”, đến “chiến tranh Việt Nam hóa” và cuối cùng như bác Hồ đã dự đoán đúng tim đen của những kẻ mang tư tưởng vũ khí luận “Mỹ chỉ chịu thua khi thua trên bầu trời Hà Nội”.
Với cuộc chiến tranh chống Mỹ, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo lý luận bạo lực, đưa hình thức khởi nghĩa, nổi dậy của quần chúng vào trong chiến tranh, làm cho sức mạnh của chiến tranh cách mạng tăng lên gấp bội. Khi vận dụng khởi nghĩa vào trong chiến tranh, Đảng ta hiểu rằng, khởi nghĩa trong chiến tranh không thể giống với khởi nghĩa thông thường khi khởi nghĩa diễn ra một cách độc lập mà luôn phụ thuộc vào những quy luật của đấu tranh vũ trang. Tuy nhiên, thực tiễn kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng trong kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam chứng tỏ rằng, khởi nghĩa và nổi dậy của quần chúng có thể diễn ra dưới nhiều quy mô, từ quy mô to nhất toàn miền Nam như cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đến các cuộc khởi nghĩa trong từng địa phương, theo từng đợt chiến dịch và hoạt động tấn công quân sự của ta; những cuộc khởi nghĩa mà chúng ta chủ động chuẩn bị và tạo ra một cách chủ động.
Thế trận của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là thế trận tiến công từ đầu đến cuối. Không chỉ trong “chiến tranh đặc biệt” mà ngay trong “chiến tranh cục bộ” khi Mỹ đổ quân ồ ạt vào thì ta vẫn chủ trương và trên thực tế đã tiến hành chiến lược tấn công. Từ đồng khởi đi lên chiến tranh giải phóng, thế trận tiến công được duy tân và phát triển ngay cả khi so sánh lực lượng về mặt trang bị kỹ thuật giữa ta và Mỹ hoàn toàn bất lợi cho ta. Đó là vì Đảng ta đã tạo ra được những lực lượng chiến đấu tại chỗ rất mạnh ở miền Nam, cả chính trị và vũ trang, kết hợp tài tình chính trị và vũ trang; các lực lượng đó lại được sự chi viện của hậu phương lớn, sự chi viện này càng về cuối chiến tranh càng mạnh, trên thực tế đã trở thành tổng lực của cả hai miền Nam-Bắc đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn và miền Bắc chi viện sức người và trang bị vật chất cho miền Nam đi qua dãy Trường Sơn theo trục Bắc-Nam với những đường xương cá từ tây sang đông là một hình thế chiến lược rất hiểm. Với chiến lược ba vùng, với các lực lượng chủ lực mạnh đứng chân ở vùng rừng nói phía tây thì bất cứ một cuộc hành quân nào của các lực lượng đó xuống vùng ven biển đều tạo ra sự chia cắt, làm rối loạn phòng ngự chiến lược của địch. Chính vì hiểu như vậy nên trong suốt cuộc chiến tranh, Mỹ-ngụy ra sức phá cái thế chiến lược bất lợi cho chúng, rất coi trọng đánh phá sự chuẩn bị hậu cần của ta. Địch sử dụng mọi biện pháp từ việc đánh phá ác liệt tuyến hành lang 559, triệt các đường tiếp tế khai thác tại chỗ của ta, mở các cuộc hành quân cả sang Cam-pu-chia và Lào để phá chân hàng, hai lần gây chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Không chỉ có vậy, địch còn dùng biện pháp ngoại giao, hù đọa “tia lửa Việt Nam có thể đốt cháy cánh đồng” để hạn chế sự chi viện vật chatá của phe XHCN cho Việt Nam. Trái lại về phía ta, chúng ta mở rộng tiến công trên các mặt trận hậu cần, mở rộng và hoàn thiện tuyến hành lang chiến lược 559, làm cho tỷ trọng vật chất cung cấp cho chiến trường ngày càng tăng.
Cố gắng cuối cùng của Mỹ để phá thế trận hiểm nghèo đó là dùng đòn B52 để đặt lại điều kiện đàm phán, đòi các đơn vị Bắc Việt Nam phải rút khỏi miền Nam Việt Nam cùng với việc Mỹ rút để tạo so sánh lực lượng có lợi nhất cho ngụy. Cố gắng đó đã bị đập tan! Mỹ phải chấp nhận đơn phương rút khỏi chiến tranh Việt Nam. Vào mùa xuân 1975, thế trận hiểm yếu đó của ta đã phát huy tác dụng rõ rệt, làm cho chế độ Mỹ-ngụy đi đến chỗ sụp đổ.
Mở đầu chiến cuộc Xuân 1975, việc chọn điểm đột phá ở Buôn Ma Thuột là một sự lựa chọn đúng và tài tình. Sau chiến thắng Tây Nguyên, cùng với các mũi tiến công của chủ lực ta uy hiếp từ tây Thừa Thiên- Huế, tây Quảng Đà, tây Quảng Ngãi... việc quân đoàn Tây Nguyên trên đường truy kích tràn xuống đồng bằng, giải phóng ba tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đã làm cho các lực lượng ngụy quân hết đường rút chạy bằng đường bộ, tan rã tại chỗ, không thực hiện được co cụm về Sài Gòn để tổ chức tuyến phòng thủ mới, đợi mùa mưa và chờ tăng viện. Thế trận chiến lược đó đã đóng vai trò quan trọng trong việc xóa sổ quân khu 1 và 2 của địch một cách nhanh chóng.
Như vậy là sau cả một thời gian chiến tranh dài đằng đẵng, đặc biệt là sau hai đòn Tây Nguyên và Huế- Đà Nẵng, quân dân ta đã đứng trước một thời cơ và một thế trận hoàn toàn thuận lợi để đi đến trận chiến đấu quyết định. Có người nghĩ rằng, có thời, có thế đó thì vấn đề lực lượng không còn đóng vai trò quan trọng nữa, lực lượng có thể không đủ nhưng thời và thế sẽ bù vào so sánh lực lượng thay cho lực lượng. Đúng là có quan hệ như vậy giữa thời thế và lực trong chiến tranh. Nhưng trong tình hình đông xuân 1975, sự lãnh đạo và chỉ đạo đúng đắn và tài tình của Đảng ta là đã rất coi trọng đến việc tập trung đủ lực lượng, trong một thời gian hết sức ngắn, tạo ra một ưu thế áp đảo. Càng muốn thắng nhanh trước mùa mưa thì càng phải tập trung cao độ lực lượng, không cho địch kịp ngóc đầu dậy trong trận quyết chiến chiến lược cuối chiến tranh. Có thời có thế lại có lực và cả ba nhân tố chiến lược kết hợp hữu cơ với nhau thì mới đi đến thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Ngày 25-3-1975, Nghị quyết Bộ Chính trị vạch rõ: “Nắm thời cơ, tập trung nhanh nhất lực lượng (từ 12 sư đoàn trở lên), tập trung binh khí kỹ thuật và vật chất giải quyết xong Sài Gòn-Gia Định trước mùa mưa”. Chấp hành tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng hành dinh và Bộ tư lệnh chiến dịch đã làm một cuộc tổng động viên và tổ chức lực lượng, cả các lực lượng tại chỗ ở chiến trường lẫn các lực lượng từ xa cơ động đến một cách cực kỳ nhanh chóng và có hiệu quả chưa từng thấy trong kháng chiến chống Mỹ.
Đảng ta chủ trương tập trung tất cả mọi lực lượng, thực hiện kết hợp tổng công kích về quân sự với nổi dậy của quần chúng. Tổng tiến công về quân sự phải kết hợp với nổi dậy của quần chúng, nhưng tiến công quân sự phải đi trước một bước, giữ vai trò quyết định. Điều đó là đúng với quy luật về vai trò của chiến tranh chính quy trong giai đoạn kết thúc chiến tranh của chiến tranh nhân dân Việt Nam đồng thời cũng phù hợp với một thực trạng tình hình là lực lượng chính trị quần chúng còn chưa thật sung sức.
Chiến dịch Hồ Chí Minh đã giành toàn thắng trong một thời gian kỷ lục. Trong khoảng ba ngày rưỡi, ta đã tiêu diệt hoàn toàn quân khu 3 của địch, đã giải phóng Sài Gòn-Gia Định, làm cho quân khu 4 của địch ở đồng bằng sông Cửu Long tan rã hoàn toàn. Thắng lợi đó là do sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ta đã kết hợp một cách tài tình thời, thế và lực, tạo ra một hiệu suất chiến dịch và chiến lược chưa từng có của chiến tranh cách mạng Việt Nam. Thực tế diễn biến của chiến dịch chứng tỏ chủ trương tập trung tối đa lực lượng để đè bẹp ý chí đề kháng của địch là rất đúng. Tuy ở trong thế sắp thua và tan rã nhưng địch chống cự không phải không quyết liệt. Chúng đã cản phá quyết liệt trên các hướng, các địa bàn chiến lược phòng thủ Sài Gòn. Trước giờ phút cuối cùng của chiến tranh, ở cửa ngõ Sài Gòn, địch còn gây thương vong cho ta 6.000 người. Tuy nhiên, sự cản phá quyết liệt đó đã không dẫn đến trạng thái giằng co, một trạng thái sẽ bất lợi cho quân ta khi mùa mưa đang đến. Những mục tiêu mà ngày 28-4 quân ta chưa giải quyết được thì ngày 29-4 quân ta đã đột phá thành công, tạo ra cái thế về cơ bản là thông thoáng để sáng 30- 4, các binh đoàn cơ giới thọc sâu của ta có thể tiến thẳng vào các mục tiêu trong nội đô. Không có sự tập trung đủ lực lượng thì cái thời và cái thế chiến lược chưa chắc đã được tận dụng một cách thuận lợi như vậy.
Kỷ niệm 30 năm đại thắng mùa xuân 1975, chúng ta bàn về sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta, sự kết hợp tài tình thời, thế và lực, sự lãnh đạo tài tình đã là nguyên nhân có tính quyết định đến việc giành thắng lợi trong chiến tranh. Vấn đề đặt ra là bài học về sự lãnh đạo tài tình đó của Đảng ta trong chiến tranh có ý nghĩa chỉ đạo gì đối với công cuộc lãnh đạo xây dựng đất nước hiện nay?
Bài học về sáng tạo thời, thế, lực và sử dụng kết hợp chúng để tạo ra bước nhảy vọt trong chiến tranh là hoàn toàn có thể áp dụng cho công cuộc xây dựng đất nước ta hiện nay, cho việc tìm tòi cái đà mới của công cuộc đổi mới mà chúng ta đang tiến hành. Cái cảm giác đổi mới đang hết đà và người ta đang muốn tìm cú hích mới cho đổi mới là điều có thể hiểu được! Sự phát triển của xã hội ta rất cần sự phát triển về lượng lẫn sự phát triển về chất; phát triển về lượng đến một lúc nào phải có sự ra đời của một chất lượng mới. Kéo dài mãi sự phát triển về lượng, không có sự phát triển về chất thì cái cảm giác hết đà, giẫm chân tại chỗ sẽ nảy sinh. Tìm tòi cú hích mới là đáng làm, nhưng xin hãy tránh cho đất nước những sự tìm tòi lạc lối. Cái đà mới của đổi mới chúng ta chẳng phải tìm đâu xa mà tìm ngay ở thực tiễn đấu tranh của Đảng ta, dân ta.
Hãy hoạch định một chiến lược dài hơi, chuẩn bị thời, thế và lực trong xây dựng, kết hợp chúng trong những tình huống chiến lược để chuyển trạng thái chất lượng nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nước ta từ thấp lên cao. Công cuộc đổi mới Việt Nam sẽ phải đi qua từng bước với những mục tiêu được xác định rõ ràng, được thực hiện một cách kiên quyết và qua mỗi bước như vậy, một chất lượng mới lại ra đời và đổi mới, lại tạo được đà mới cho bước tiếp theo, cho đến bước cuối cùng là sự ra đời của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo Trung tướng – Giáo sư Trần Xuân Trường, báo Quân đội nhân dân ngày 21/4/2005

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Đại tướng Văn Tiến Dũng - vị Tư lệnh chiến dịch (01/05/2005)
Đồng chí Nguyễn Thị Định trong những ngày Bến Tre đồng khởi (01/05/2005)
Đồng chí Phạm Hùng, một người lãnh đạo cao nhất trên chiến trường miền Nam (*)... (01/05/2005)
Việt Nam - 30 năm vươn mình đứng dậy (01/05/2005)
Đại thắng mùa Xuân 1975 – Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử (28/04/2005)
Sức mạnh chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (28/04/2005)
Từ thành công trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đến vận dụng tư tưởng của Người vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay (28/04/2005)
Một số bài học về công tác tư tưởng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (28/04/2005)
Chiến tranh nhân dân địa phương chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (27/04/2005)
Phương thức tác chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nhìn từ Đại thắng mùa Xuân 1975 (27/04/2005)
 Trang 1 / 2 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Thành phố Hồ Chí Minh
30 năm vì cả nước, cùng cả nước xây dựng CNXH (21/04/2005)
Đường Hồ Chí Minh - một kỳ tích của ý chí Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (20/04/2005)
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo chiến lược sắc bén, huy động sức mạnh cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước (20/04/2005)
Thế và lực từ sức mạnh thời đại (20/04/2005)
Đoàn kết quốc tế - phát huy sức mạnh thời đại (20/04/2005)
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara
11 sai lầm của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (20/04/2005)
Thành ủy Sài Gòn - Gia Định lãnh đạo lực lượng vũ trang và nhân dân tham gia tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 (15/04/2005)
Chiến thắng 30-4-1975, chiến thắng của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc (15/04/2005)
Đại thắng mùa xuân 1975, ý nghĩa đối với công tác giáo dục chính trị tư tưởng hiện nay (14/04/2005)
Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc (13/04/2005)
 Trang 1 / 2 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet