Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 2 tháng 9 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  bandoc.dcsvn@gmail.com
thuky.dcsvn@gmail.com
Bộ đội cụ Hồ niềm tự hào của nhân dân Việt Nam
08:52 | 24/12/2004
Trong đấu tranh cách mạng cũng như trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng nhân tố con người. Ngay trong thời kỳ trứng nước, khi chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền, lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trương "người trước, súng sau", "tinh thần của con người phải truyền qua súng". Người giao nhiệm vụ cho đồng chí Võ Nguyên Giáp tổ chức Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, cần chọn "những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất...". Từ khi ra đời và trong suốt quá trình cách mạng, kháng chiến, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cùng toàn dân lập nên những kỳ tích, những chiến công hiển hách làm rạng rỡ non sông, đất nước. Từ cách mạng, qua cách mạng và nhờ cách mạng, một lớp người mới đã được sản sinh với những đặc trưng nhân cách tiêu biểu của giá trị Việt Nam. Lớp người đó được nhân dân trìu mến, thân thương gọi là Bộ đội Cụ Hồ.
Một trong những thành quả vĩ đại nhất của quá trình lãnh đạo cách mạng kiệt xuất của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh là, lần đầu tiên trên đất nước Việt Nam yêu quý, một loại hình lực lượng vũ trang cách mạng, lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân, trong đó Quân đội nhân dân, quân đội kiểu mới của dân tộc, quân đội của dân, do dân, vì dân được sáng lập. Quân đội ấy ra đời chưa đầy một năm đã cùng toàn dân tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám long trời lở đất, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Kế đó, quân đội ấy làm nòng cốt và cùng toàn dân kháng chiến đánh bại hai đế quốc xâm lược có bộ máy chiến tranh và tiềm lực kinh tế - quân sự khổng lồ, có nền công nghệ quân sự hiện đại bậc nhất thế giới tư bản và những đội quân viễn chinh rất lớn, thông thạo việc xâm chiếm nước ngoài. Quân đội ấy luôn vững vàng trước mọi thử thách, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã cùng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và làm nên những thành quả vĩ đại trong công cuộc đổi mới đất nước.
Theo nhiều vị tướng lĩnh(1), tên gọi Bộ đội Cụ Hồ xuất hiện vào đầu những năm năm mươi của thế kỷ XX. Cho dù, về bối cảnh và học thuật, xuất xứ của từ này cần được tìm hiểu thêm, có thể khẳng định đây là cách gọi hàm súc, chính xác, mang cả ý nghĩa thực tiễn và tinh thần tôn vinh người quân nhân cách mạng, nhanh chóng đi vào lòng người, trở thành danh hiệu cao quý, thân thương mà nhân dân đã tin yêu dành cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, cả nam và nữ, cả già cùng trẻ.
Được mang danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ là niềm vinh dự và hạnh phúc của mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội ta. Trong tiềm thức của nhân dân ta, Bác Hồ là lãnh tụ thiên tài, anh hùng dân tộc, "Người là cha, là bác, là anh" của bao thế hệ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Thế giới suy tôn Người là "Anh hùng giải phóng dân tộc - Nhà văn hoá lớn" (Tuyên bố của UNESCO). Tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh hội tụ tinh hoa văn hoá Việt Nam và nhân loại. Với cách gọi Bộ đội Cụ Hồ, nhân dân ta đã tỏ rõ sự trân trọng và biết ơn công lao của lãnh tụ, đồng thời cũng gửi gắm niềm thương yêu, tin tưởng, mến phục đối với người lính, con em mình.
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời, phát triển nhanh chóng đáp ứng yêu cầu lịch sử dân tộc là đấu tranh vũ trang giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xã hội khỏi ách đế quốc, phong kiến. Đội tập hợp những thanh niên ưu tú, giác ngộ cách mạng rút từ các đội vũ trang địa phương lên và "bắt đầu với những vũ khí góp nhặt nhưng là các loại súng săn", như nhận xét của tướng Pháp Bi-gia. Đội chủ lực đầu tiên đó trưởng thành nhanh chóng qua Cách mạng tháng Tám năm 1945, qua các hoạt động và công tác, vì nhân dân và cùng toàn dân giành lại độc lập tự do và xây đắp nên Tổ quốc Việt Nam thống nhất, tươi đẹp ngày nay. Khởi nguồn và quá trình đó tỏ rõ quân đội ta - Bộ đội Cụ Hồ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, như Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh về thành lập đội. Về điều này, chính đối phương của chúng ta cũng thừa nhận. Tướng Pháp Na-va viết rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam có "nền tảng... ăn sâu vào trong dân tộc", và "chính quyền, dân chúng và quân đội là một. Đó là sức mạnh to lớn của họ", chiến đấu "vì lý tưởng độc lập tự do", có "một niềm tin dựa trên ý thức hệ vững chắc"(1). Với lối nói giản dị, nhưng là cách khái quát cao, tháng 5 năm 1946, tại trường võ bị Trần Quốc Tuấn, Người khẳng định: "Trung với nước, hiếu với dân là một bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đội quân quốc gia đầu tiên của nước ta"(2). Tháng 5 năm 1948, trong Thư gửi trường Trần Quốc Tuấn nhân dịp khai giảng khoá 4, Người lại viết: "Tôi vui lòng tặng trường 6 chữ "Trung với nước - hiếu với dân"(3). Trong bài nói nhân kỷ niệm 20 năm thành lập quân đội ta, ngày 22 tháng 12 năm 1964, Người viết : " Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi. Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi giúp đỡ lẫn nhau"(4).
Những khái quát trên thực chất là một. Trên thực tế, giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội là thống nhất. Bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ chế độ. Theo tinh thần đó, trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, là bổn phận, là bản chất Cách mạng của quân đội ta, là đặc điểm nổi bật và thành tố cơ bản nhất của nhân cách văn hoá Bộ đội Cụ Hồ.
Quân đội ta là đội quân chiến đấu, lao động và công tác. Ngay từ khi ra đời và liên tiếp sau này, đối tượng tác chiến của Quân đội ta luôn là những kẻ xâm lược có số quân đông, có tiềm lực kinh tế - quân sự khổng lồ, hiện đại. Để thắng địch, Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần dám đánh, quyết chiến quyết thắng. Để quyết thắng, quân đội ta biết phát huy trí thông minh, sáng tạo của người Việt Nam. Kế thừa và phát huy truyền thống đánh giặc của tổ tiên, quân đội ta đã xây dựng nên cách đánh độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó là nghệ thuật tác chiến "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều", lấy chất lượng cao thắng quân địch có số lượng đông; lấy yếu chống mạnh về vật chất kỹ thuật, lấy trang bị ít hơn và kém hiện đại hơn thắng vũ khí kỹ thuật tối tân của địch. Quân đội ta thấm sâu lời dạy của Bác Hồ "Tiến công phòng ngự không sơ hở", "kiên quyết không ngừng thế tiến công", "Thắng không kiêu, bại không nản", "không chủ quan khinh địch". Cách đánh của Quân đội ta dựa vào và phát huy cao độ ưu thế tuyệt đối về chính trị - tinh thần, về trí thông minh của con người Việt Nam. Viên tướng Pháp R.Xa-lăng sau nhiều năm đối diện với quân đội ta và chịu thảm bại, thừa nhận: "Quân đội cộng sản... mạnh thêm vì cơ cấu chính trị đặc biệt... (là) quân đội giỏi nhất trên thế giới hiện nay"(1). Còn tướng Mỹ thất trận Oét-mo-len thì viết: "Quân đội nhân dân Việt Nam là một lục quân thiện chiến vào bậc nhất, nhì thế giới, vì họ thấm nhuần học thuyết chiến tranh nhân dân của Ông Hồ"(2).
Bộ đội Cụ Hồ không chỉ chiến đấu giỏi mà còn giỏi trong lao động sản xuất, tận tuỵ trong công tác, tự giải quyết một phần nhu cầu sinh hoạt và giúp dân tăng gia, góp phần xoá đói, giảm nghèo, ổn định môi trường chính trị - xã hội. Như thế, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ quyết chiến quyết thắng, biết đánh, biết thắng, dũng cảm, mưu trí trong chiến đấu; cần cù, sáng tạo, tận tuỵ trong lao động và công tác in đậm trong tâm trí nhân dân.
Được Đảng tổ chức và giáo dục, Bộ đội Cụ Hồ mang bản chất giai cấp công nhân. Mọi chuẩn mực, quy định về tổ chức, kỷ luật và dân chủ được cán bộ, chiến sĩ chấp hành một cách tự giác, nghiêm minh. Bộ đội Cụ Hồ được đào luyện trong các cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, nhiều thập kỷ. Có khi ba thế hệ và nhiều trường hợp hai thế hệ, thậm chí trực hệ trong quân ngũ, trên một chiến hào. Bởi thế truyền thống "phụ tử chi binh", "huynh đệ chi binh" được thể hiện sinh động và phát huy mạnh mẽ. Tuy nhiên tình đoàn kết trong nội bộ quân đội được xây dựng trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội cùng chung lý tưởng, mục tiêu chiến đấu. Thực tế, đúng như lời Bác Hồ căn dặn : "Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, v.v... Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt...". Đó là quan hệ hiếm thấy trong quân đội nước ngoài. Đại tá Ga-bri-en Bon-nê thuộc Viện hàn lâm quân sự Pháp viết : "Những nhà chỉ huy quân sự cao cấp của Việt Minh có đầy đủ các đức tính làm tự hào cho quân đội cách mạng: trung thành và đức tin chính trị, sự hiểu biết và sự thông minh tổng hợp, tính cương nghị và dũng cảm trước bất cứ thử thách nào... chỉ huy và chiến binh quần áo cùng một thứ vải xoàng như nhau, cùng một loại giày... Mọi người sống bằng khẩu phần gạo mang theo mình, bằng các thứ củ đào được đây đó trong rừng, bằng những con cá câu được ở lòng suối, ở những nơi họ vừa lấy nước uống"(1).
Tuy nhiên bên cạnh mặt ưu việt, cũng dễ nảy sinh các "căn bệnh" từ mặt trái của quan hệ đó, như gia trưởng, tự do tuỳ tiện, dân chủ quá trớn.., những điều cần phòng ngừa và khắc phục. Bộ đội Cụ Hồ là con em nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu nên quân và dân có tình đoàn kết keo sơn, ơn sâu nghĩa nặng, gắn bó máu thịt, cùng nhân dân chiến đấu và chiến thắng, thấm đậm tình "cá, nước", quân dân một lòng, quân dân một ý chí.
Mang bản chất công nhân và phát huy truyền thống dân tộc, Bộ đội Cụ Hồ thể hiện tình đoàn kết quốc tế đậm đà , trong sáng, thuỷ chung son sắt, chí nghĩa chí tình. Điều đó được hình thành và phát triển từ quan điểm của Đảng ta kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, từ quá trình thực hiện nhiệm vụ dân tộc vẻ vang và nghĩa vụ quốc tế cao cả, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản cao đẹp. Đoàn kết và liên minh với quân và dân hai nước láng giềng Lào và Campuchia anh em chống kẻ thù chung. Ơn nặng, tình sâu với quân và dân các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc. Chăm lo phát triển tình hữu nghị với các phong trào giải phóng dân tộc, với nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Bộ đội Cụ Hồ thắm tình đoàn kết sâu nặng: đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế.
Sau nữa là, Bộ đội Cụ Hồ hoạt động và sinh hoạt văn hoá giàu tính văn hoá.Trước cách mạng và trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, phần lớn bộ đội ở ngay trong nhà dân; nhiều nơi được phép ở cả trong đình chùa, miếu mạo. Bộ đội chia sẻ công việc, niềm vui, nỗi buồn với dân; tham mưu cho cấp uỷ và chính quyền; cày, cấy, gặt hái giúp dân; khơi mương, cống rãnh, trồng cây xanh, dọn sạch đường làng với dân; cắt tóc cho dân, tắm rửa cho con trẻ, cứu chữa người bệnh; dạy chữ, dạy hát, chung vui với cả làng cả xã; xưng hô với chủ nhà kính trọng và thân thiết như chính với ông bà, cha mẹ, anh em mình. Như thế, Bộ đội Cụ Hồ đã góp phần quan trọng tạo nên môi trường văn hoá - tinh thần sinh động phong phú. Không chỉ trong đơn vị, trong doanh trại mà cả ở vùng đóng quân, quanh khu vực đóng quân, Bộ đội Cụ Hồ luôn nuôi dưỡng và phát triển tình quân dân cá nước. Ngày nay, các hoạt động văn hoá, văn nghệ được kết hợp chặt chẽ với việc xây dựng cảnh quan môi trường (trong doanh trại và mở rộng ra cả địa phương nơi đóng quân), xanh, sạch, đẹp và lành mạnh. Điều đó vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và thưởng thức văn hoá, nâng cao chất lượng cuộc sống của bộ đội, vừa góp phần vào việc giáo dục, xây dựng bản lĩnh chính trị, tạo mối đoàn kết cán binh, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và tạo điều kiện cho các cá nhân sáng tạo các giá trị văn hoá, văn nghệ.
Những đặc trưng nổi bật kể trên hợp thành bản chất cách mạng và truyền thống anh hùng của Bộ đội Cụ Hồ, của Quân đội ta. Hẳn rằng, đó cũng là những nét chung nhất, phản ánh bản sắc văn hoá dân tộc, là biểu hiện cao đẹp của phẩm giá Việt Nam, của con người Việt Nam mới. Mẫu hình người Việt Nam đó hàm chứa "Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống"(1).
Ngày nay, trong cuộc trường chinh mới của dân tộc nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Bộ đội Cụ Hồ sẽ và cần phát huy, làm phong phú những phẩm chất tốt đẹp, tự hoàn thiện mình, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới của đất nước, xứng đáng với niềm tin cậy và niềm tự hào của Đảng ta, nhân dân ta.

Thiếu tướng, PGS, TS. Trịnh Vương Hồng
Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam


Tài liệu tham khảo:
1 Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
(1) Xin tham khảo : Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996. Và, Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - nhà chính trị quân sự lỗi lạc, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997.
(1) Dẫn theo Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 2 năm 1994, tr.72.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.239.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Sđd, tr.432.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.350.
(1) R.Xa-lăng: Đông Dương đỏ, dẫn theo Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 8 năm 1986.
(2) Dẫn theo : 55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam - miền đất khai sinh và quá trình phát triển, Nxb QĐND, H., 1999, tr.474.
(1) R.Xa-lăng, Đông Dương đỏ, dẫn lại từ Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 8 năm 1986.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương VIII. Nxb Chính trị quốc gia, H., 1998, tr.56.

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin tiếp
Chữ Nôm Một di sản văn hoá dân tộc (24/12/2004)
Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và những điểm mới trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo (20/12/2004)
Hà Nội - Thủ đô văn hiến vì hoà bình (20/12/2004)
Thành tựu và cống hiến của dân tộc ta trong sự nghiệp phát triển và bảo vệ quyền con người (12/12/2004)
Phát triển con người vì một nước Việt Nam hiện đại và văn minh (12/12/2004)
Cần tiếp tục ủng hộ nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam (12/12/2004)
Một chính sách nhất quán và hiện thực
Tự do tôn giáo ở Việt Nam cội nguồn và thực tiễn (12/12/2004)
Thành tựu về nhân quyền ở Việt Nam trong những năm qua (24/06/2004)
Festival Huế 2004
Di sản văn hoá với hội nhập và phát triển (24/06/2004)
Về nhã nhạc cung đình Huế
Di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (24/06/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Dự án đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai đã cán đích
· Vụ chuyển nhượng giữa Metro và BJC: “Gần 900 triệu đô-la cũng là cái giá phải chăng”
· Thủ tướng Chính phủ dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
· Hình ảnh Việt Nam được quảng bá rộng rãi tại Pháp
· Miễn vé tham quan ngày 2/9 cho du khách tại khu di sản Huế
· Thời tiết ngày 1/9: Các vùng trên cả nước có mưa rào rải rác
· Tân Tổng thống Ai Cập Abdel Fattah el-Sisi giành tỷ lệ ủng hộ cao
· TP. Hồ Chí Minh: Nỗ lực bảo đảm giao thông trong dịp 2/9
· Hà Nội - thiêng liêng, tự hào đón Tết Độc lập
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : thuky.dcsvn@gmail.com
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet