Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 24 tháng 4 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  kythuat@cpv.org.vn
dangcongsan@cpv.org.vn
Thủy sản Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển đất nước
17:29 | 17/12/2004
Thuỷ sản là ngành hàng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Đối với nước ta, thuỷ sản hiện đang cung cấp một nguồn thực phẩm quan trọng cho tiêu dùng trong nước và góp phần không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước nhà.
Với tiềm năng to lớn, để phát triển thuỷ sản, cùng với việc chủ động tiếp cận thị trường, thực hiện công cuộc ”đổi mới” trong quản lý và sản xuất kinh doanh thuỷ sản, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đã vượt qua ngưỡng 2 tỷ đô la vào cuối năm 2002, ngày càng trở thành một ngành quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, cải tạo bộ mặt nông thôn ven biển Việt Nam. Tuy nhiên, những kết quả đạt được của ngành hàng thuỷ sản chưa tương xứng với tiềm năng phát triển. Đặc biệt trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay, thương mại thuỷ sản đang phải cạnh tranh ngày càng gay gắt và là một trong những ngành hàng luôn phải đối mặt với những rào cản thương mại, kể cả các rào cản trá hình. Để thuỷ sản ngày càng phát triển trong xu thế hội nhập, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, đòi hỏi phải có những biện pháp, bước đi thích hợp.
I.Tiềm năng và thực trạng phát triển thủy sản Việt Nam.
Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á có diện tích đất liền là 330.991 km2, có bờ biển dài, còn phần lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km2. Do trải qua nhiều vĩ độ Việt Nam cắt qua nhiều đơn vị địa chất - địa hình, khí hậu - thủy văn, thổ nhưỡng - sinh vật, làm tiền đề cho tính đa dạng sinh thái hiếm có. Việt Nam là nước có “tính biển” lớn nhất trong các nước ven biển Đông Nam Á, vùng biển rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, biển và đất liền đã tạo nên những vùng sinh thái khác nhau với các loài vật thủy sinh đa dạng, phong phú (môi trường nước mặn xa bờ, môi trường nước mặn gần bờ).
Với 3260 km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông, lạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển. Trong nội địa hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và các hồ thủy lợi, thủy điện, đã tạo cho nước ta có tiềm năng lớn về mặt nước với khoảng 1.700.000 ha trong đó có 811.700 ha mặt nước ngọt, 635.400 ha mặt nước lợ cửa sông ven biển và 125.700 ha eo vịnh có khả năng phát triển, chưa kể mặt nước các sông và khoảng 300.000 - 400.000 ha, eo, vịnh, đầm phá ven biển có thể sử dụng vào nuôi trồng thủy sản chưa được quy hoạch.
Theo những đánh giá mới nhất, trữ lượng cá biển trong toàn vùng biển khoảng 4,2 triệu tấn, trong đó sản lượng cho phép khai thác là 1,7 triệu tấn / năm, bao gồm 850 nghìn cá đáy, 700 nghìn tấn cá nổi nhỏ, 120 nghìn tấn cá nổi đại dương. Hàng năm cho khả năng khai thác tối đa 1.670 triệu tấn; cùng với cá biển, nguồn lợi tôm biển có trữ lượng 58 ngàn tấn, cho khả năng khai thác tối đa 29 ngàn tấn; với mực các loại, số tương ứng là 123 ngàn tấn và 50 ngàn tấn. Đặc điểm cơ bản của nghề cá biển Việt Nam là nghề cá đa loài, phân tán, phù hợp với nghề cá truyền thống.
Bên cạnh cá, vùng biển Việt Nam còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1.600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50 - 60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác 60 - 70 nghìn tấn/năm); hàng năm có thể khai thác từ 45 - 50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế như rong câu, rong mơ v.v... Ngoài ra, còn rất nhiều loài đặc sản quí như bào ngư, đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cỏ, ngọc trai, v.v...
Với trên 4 triệu dân sống ở vùng triều và khoảng 1 triệu người sống ở đầm phá, tuyến đảo của 714 xã, phường thuộc 28 tỉnh, thành phố có biển và hàng chục triệu hộ nông dân, hàng năm đó tạo ra lực lượng lao động nuôi trồng thuỷ sản đáng kể chiếm tỷ trọng quan trọng trong sản xuất nghề cá. Chưa kể 1 bộ phận khá đông ngư dân làm nghề đánh cá, nhưng không đủ phương tiện để hành nghề khai thác cũng chuyển sang nuôi trồng thủy sản và lực lượng lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa nuôi trồng thủy sản. Đội ngũ lao động nghề cá nước ta cần cù và tự lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi do nguồn lợi tự nhiên mang lại, sản xuất thủy sản cũng là ngành chịu nhiều rủi ro do thời tiết và thiên tai gây nên.
Về thực trạng phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam: Hơn 20 năm qua, kể từ khi Nhà nước cho ngành thủy sản thử nghiệm cơ chế “tự cân đối, tự trang trải” đến thực hiện cơ chế thị trường nhiều thành phần kinh tế, nhất là những năm gần đây, thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn và chuyển dịch cơ cấu bản thân bộ, ngành. Ngành Thuỷ sản đã tự khẳng định bằng các chỉ số liên tục phát triển, với tốc độ khá cao trong 2 thập kỷ, thể hiện qua số liệu dưới đây:
(Theo bảng dưới)

a. Về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản:
Sản lượng khai thác hải sản tuy không tăng nhiều qua các năm, nhưng cơ cấu sản phẩm khai thác có sự thay đổi theo yêu cầu của thị trường nhất là cho xuất khẩu, ngư dân đã chuyển dần từ việc khai thác theo số lượng, khai thác ven bờ, hướng sang khai thác những đối tượng có giá trị xuất khẩu và khai thác xa bờ. Bên cạnh đó việc bảo quản sau thu hoạch cũng được quan tâm thêm một bước. Nhiều nơi, ngư dân đã đầu tư tàu hậu cần dịch vụ để phục vụ cho tàu khai thác hải sản xa bờ bám biển dài ngày hơn, giảm chi phí đi về, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành. Tỷ trọng sản phẩm xuất khẩu trong sản lượng khai thác đã tăng từ dưới 20% năm 1998 lên khoảng 27% vào năm 2003.

b. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản:
Nuôi trồng thuỷ sản được xác định là nguồn chính cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu, cho an ninh thực phẩm, xoá đói giảm nghèo và là ngành có nhiều tiềm năng để phát triển nhanh trong thời gian tới. Ngay từ những năm đầu của thập kỷ 90, nuôi trồng thuỷ sản đã bắt đầu khởi sắc, tuy nhiên, phải đến 4 năm gần đây nuôi trồng thuỷ sản mới thực sự có bước phát triển mới cả về diện tích nuôi lẫn phương thức và đối tượng nuôi. Năng suất và sản lượng liên tục tăng lên, giải quyết thêm nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn và ven biển, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn, giảm sức ép gia tăng cường lực khai thác hải sản.
Đối tượng nuôi được mở rộng, trong đó đã chú ý nuôi các đối tượng có giá trị xuất khẩu: tôm sú, tôm hùm, tôm càng xanh, cá tra, ba sa, cá song... Tuy nhiên, đối tượng chính để xuất khẩu vẫn tập trung vào tôm sú, cá tra, ba sa. Các đối tượng khác chỉ nuôi ở mức sản lượng thấp cho tiêu dùng trong nước, giá thành sản xuất cao.

c. Chế biến và xuất khẩu thuỷ sản:
Ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản ngày một phát triển cả về công suất và công nghệ chế biến, tạo thế chủ động hơn về thị trường, nâng cao hiệu quả chế biến xuất khẩu thuỷ sản, đến nay đã có 153 đơn vị xuất khẩu đi EU, gần 300 đơn vị áp dụng HACCP đủ điều kiện xuất khẩu Mỹ và các thị trường lớn khác. Chính thành công đó đã tạo niềm tin để hình thành một sự đổi mới lớn trong hầu hết các cơ sở chế biến thuỷ sản. Một số đơn vị được cơ quan kiểm tra chất lượng hải sản của Hoa Kỳ cấp chứng chỉ HACCP, tạo điều kiện để sản phẩm của các đơn vị này trực tiếp đi vào hệ thống các siêu thị, nhà hàng của các tập đoàn lớn của Mỹ như Cotsco, Sysco.
II. Những mặt đạt được và những khó khăn,
bất cập trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong triến trình chuẩn bị và hội nhập kinh tế quốc tế, thủy sản là một trong những ngành rất coi trọng trong việc đổi mới cơ chế quản lý là chủ động chuẩn bị các điều kiện để hội nhập với kinh tế quốc tế.

a. Chủ động trong cơ chế thị trường.
Ngay từ những năm đầu thập kỷ 80, với việc thử nghiệm cơ chế “tự cân đối, tự trang trải” ngành thủy sản đã từng bước chủ động huy động các nguồn lực để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh và định hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc nhiều vào các cân đối từ nguồn ngân sách nhà nước. Đồng thời chủ động đổi mới phương thức quản lý mang tính hệ thống, tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm “từ ao nuôi đến bàn ăn”.
Cơ chế thử nghiệm “tự cân đối tự trang trải” đã tạo cho các doanh nghiệp thủy sản thói quen và tư duy không trông chờ, ỷ lại quá nhiều vào Nhà nước, mà chủ động xác định mục tiêu sản xuất kinh doanh, gắn với đầu ra của sản phẩm và tìm kiếm nguồn lực để thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh đã đặt ra. Hàng thuỷ sản là một trong những sản phẩm đầu tiên của Việt Nam không chỉ xuất khẩu vào thị trường khu vực I, mà còn xuất khẩu cả vào thị trường khu vực II.
Đã hình thành đội ngũ các nhà doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thuỷ sản, năng động, sáng tạo trong quản lý và đội ngũ công nhân kỹ thuật khá lành nghề tạo ra các sản phẩm an toàn, chất lượng cao, đẹp và đa dạng. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp chủ động được các điều kiện thực hiện các cam kết quốc tế nói chung cũng như Hiệp định thương mại Việt- Mỹ và chủ động khi gia nhập WTO.
Nông, ngư dân sản xuất thuỷ sản đã có thay đổi tư duy trong sản xuất: chuyển hướng sang khai thác các loài có giá trị kinh tế, giá trị xuất khẩu có thị trường tiêu thụ và hiệu quả thay cho việc chạy theo số lượng như trước đây: tôm sú, cá tra, ba sa, tôm càng xanh, tôm hùm, cá song...

b.Chủ động điều chỉnh cơ chế quản lý đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Bộ Thuỷ sản đã thay đổi phương thức quản lý mang tính hệ thống, chủ động hướng dẫn các doanh nghiệp chuẩn bị các điều kiện, chủ động nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng thuỷ sản trong hội nhập quốc tế. Điều đó thể hiện qua các chương trình phát triển thuỷ sản của toàn ngành và của từng địa phương cũng như việc ban hành các văn bản quy phạm, các tiêu chuẩn ngành về an toàn vệ sinh thực phẩm và qua các hướng dẫn về đầu tư tăng cường năng lực và khả năng cạnh tranh, cụ thể là:
- Công tác rà soát văn bản, nghiên cứu về luật lệ, thông lệ, thủ tục thương mại, kinh doanh quốc tế và các Hiệp định song phương, đa phương đã ký kết với các nước và tổ chức quốc tế, cũng như các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thực hiện thường xuyên. Qua đó, đã tổng hợp và đề xuất sửa đổi những văn bản còn chưa phù hợp, bổ sung những văn bản còn thiếu theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi bổ sung, đồng thời phổ biến đến các địa phương doanh nghiệp để chủ động chuẩn bị cho tiến trình gia nhập WTO của ngành có hiệu qủa cao. Ngoài ra, thông qua một số hoạt động thực tiễn của ngành, các cán bộ quản lý cũng như các doanh nghiệp thuỷ sản đã bước đầu tiếp cận được với các hệ thống quản lý nghề cá, các luật lệ, thông lệ, thủ tục thương mại của các nước trên thế giới.
- Ban hành Luật Thủy sản, các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, các tiêu chuẩn ngành về an toàn vệ sinh thực phẩm và thủy sản tương đương với các quy định của CODEX, WTO và Luật về nghề cá có trách nhiệm (code of conduct for responsible fisheries); đồng thời xây dựng hệ thống quản lý, tăng cường năng lực cho cơ quan thanh tra, kiểm tra chất lượng, an toàn vệ sinh từ Trung ương đến địa phương nhằm kiểm soát từ khâu sản xuất đến thu mua, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, hàng thủy sản Việt Nam ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế và yêu cầu về bảo vệ môi trường và nguồn lợi.
- Các cán bộ quản lý cũng như các doanh nghiệp thủy sản đó bước đầu tiếp cận được với các hệ thống quản lý nghề cá, các luật lệ, thông lệ, thủ tục thương mại của các nước trên thế giới. Bước đầu thực hiện phương pháp kiểm soát hệ thống mà các nước tiên tiến đang áp dụng trong lĩnh vực quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm.
Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống quản lý theo hướng cải cách hành chính, phù hợp với các quy định của các thị trường nhập khẩu nhằm nâng cao chất lượng cho sản phẩm thủy sản Việt Nam, đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn ngày càng cao của thế giới; Việt Nam cũng khuyến khích thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực thủy sản tại Việt Nam.
Tích cực thực hiện các cam kết đa phương, song phương và khu vực, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách cơ bản theo quy định của WTO. Việc xuất nhập khẩu thủy sản được tự do hoá, trừ các loài thủy sản quí hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cấm xuất khẩu và quy định điều kiện được xuất khẩu cỏc loài thủy sản có giá trị kinh tế có khả năng bị cạn kiệt nhằm bảo vệ nguồn lợi hải sản. Đồng thời quy định các loại giống, thuốc, vắc xin, chế phẩm sinh học, hoá chất xử lý môi trường nuôi thủy sản phải xin phép nhập thử nghiệm. Việc nhập khẩu thức ăn, nguyên liệu sản xuất thức ăn nuôi thủy sản; một số loại hoá chất, chế phẩm sinh học thông dụng dùng trong nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng tiêu chuẩn quy định, không phải xin phép. Các quy định về kiểm dịch và kiểm tra chất lượng được áp dụng vì lý do bảo vệ sức khoẻ cho con người và động thực vật, tránh lan truyền các bệnh truyền nhiễm trong nuôi trồng thủy sản.

c. Chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng thuỷ sản
Việc chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng thuỷ sản không chỉ được thực hiện qua việc đổi mới thiết bị công nghệ, đổi mới quản lý nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm mà còn phải quan tâm đến việc nâng cao chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng các yêu cầu của thị trường thế giới. Cụ thể:
- Ngay từ những năm 80, với nhãn hiệu quốc tế “Seaprodex”, thuỷ sản Việt Nam đã nhận được những giải thưởng quốc tế đầu tiên về chất lượng. Đồng thời đã bắt đầu quan tâm đến nghiên cứu các qui định về an toàn vệ sinh trong sản phẩm thuỷ sản và qui trình quản lý theo HACCP ngay từ những năm đầu của thập kỷ 90.
- Triển khai thực hiện các qui định về bảo vệ động vật quí hiếm và tham gia các hoạt động về bảo vệ môi trường (thay thế tác nhân lạnh CFC bằng tác nhân khác, hướng dẫn doanh nghiệp xử lý chất thải theo ISO 14000).
- Hướng dẫn các doanh nghiệp chế biến thủy sản đầu tư nâng cấp cơ sở sản xuất, đổi mới trang thiết bị theo công nghệ tiên tiến, nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, sản xuất mặt hàng mới, hàng giá trị gia tăng, áp dụng HACCP đáp ứng yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm và thị hiếu của khách hàng, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Chế biến và tiêu thụ nội địa cũng đã từng bước quan tâm đến đổi mới công nghệ đa dạng hoá sản phẩm và nâng cao chất lượng. Nhiều sản phẩm tiêu thụ trong nước tương đương về chất lượng và mẫu mã với hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, nhìn chung mức độ quan tâm đến sản xuất và tiêu thụ nội địa còn hạn chế.
- Triển khai thực hiện các chương trình khai thác hải sản xa bờ, chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản và chương trình phát triển xuất khẩu thủy sản, nhằm thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển sản xuất thuỷ sản, tạo thêm nhiều việc làm, mở rộng thị trường, đẩy nhanh tốc độ phát triển xuất khẩu thuỷ sản, tạo thế và lực cho Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Sản xuất, kinh doanh thủy sản của Việt Nam được thực hiện bởi các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các hộ gia đình nông, ngư dân và các hợp tác xã. Các chuyên gia của Chính phủ chỉ hướng dẫn kỹ thuật thông qua Chương trình khuyến ngư, đào tạo nghề và hướng dẫn quản lý cho lao động trong ngành. Nhà nước không có trợ cấp cho sản xuất kinh doanh thủy sản.
Từ những bài học thu được từ tranh chấp thương mại với Hoa Kỳ, các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng trưởng thành hơn, chủ động hơn trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, áp dụng đầy đủ các tiêu chuẩn ngành về an toàn vệ sinh thực phẩm, đầu tư nâng cấp cơ sở sản xuất, đổi mới trang thiết bị theo công nghệ tiên tiến, nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, sản xuất mặt hàng mới, hàng giá trị gia tăng, áp dụng HACCP, đáp ứng yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm theo chuẩn mực quốc tế và thị hiếu của khách hàng. Đó cũng chính là tạo điều kiện để hàng thuỷ sản Việt Nam vươn ra rộng hơn, sâu hơn trên thị trường quốc tế.

d. Khó khăn, thách thức
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thủy sản Việt Nam còn gặp không ít khó khăn, thách thức khi tham gia hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới. Là một nước đang phát triển ở trình độ thấp nên khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam còn yếu, trình độ quản lý còn nhiều bất cập, trong khi khoa học công nghệ áp dụng trong lĩnh vực thủy sản của các nước tiên tiến phát triển mạnh mẽ, các yêu cầu về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm của các nước đòi hỏi ngày càng khắt khe, là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, các doanh nghiệp tuy đó được quan tâm đào tạo và đào tạo lại, nhưng số lượng cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu chưa nhiều, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thủy sản chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đang khó khăn không chỉ về nguồn vốn để nâng cấp cơ sở sản xuất mà còn bất cập về trình độ quản lý. Nhận thức và trình độ của nông, ngư dân rất hạn chế cần có thời gian để chuyển đổi nhận thức và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới trong sản xuất, kinh doanh.
Các đơn vị chức năng về thanh tra, kiểm tra chất lượng, kiểm dịch tuy đó được kiện toàn từng bước, nhưng điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng và năng lực thực hiện việc thanh tra, kiểm soát của một số cán bộ còn chưa đáp ứng được yêu cầu; một số tiêu chuẩn, quy chế còn chưa phù hợp với yêu cầu. Vì vậy, cần có thời gian thích hợp cho việc chuẩn bị các điều kiện về cơ chế, chính sách cũng như điều kiện vật chất kỹ thuật, đào tạo nâng cao nhận thức và năng lực cho cán bộ quản lý, những nhà hoạch định cơ chế chính sách của ngành thủy sản và các doanh nghiệp, nông, ngư dân - những người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thủy sản.
Hệ thống luật pháp của các nước có sự khác biệt lớn so với Việt Nam đặc biệt hệ thống luật lệ của các nước công nghiệp phát triển. Nhìn chung việc hiểu biết về luật lệ quốc tế nhất là các luật lệ liên quan đến thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, trong đó có doanh nghiệp thủy sản còn rất hạn chế, đòi hỏi phải có thời gian để các doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn các quy định và yêu cầu của các nước nhằm thực hiện có hiệu qủa tiến trình hội nhập.
Ngành Thuỷ sản đã phải đương đầu với nhiều tranh chấp thương mại, đặc biệt là với Mỹ, cùng với việc phát triển xuất khẩu, Việt Nam sẽ khó tránh khỏi các vụ tranh chấp thương mại, vì thực tế cho thấy, khi thương mại càng phát triển thì sẽ càng có nhiều tranh chấp thương mại xảy ra. Việc giải quyết các tranh chấp là vấn đề mới và rất khó đối với ta, do ta chưa có kinh nghiệm, thiếu đội ngũ luật sư đủ mạnh để xử lý các vụ kiện tranh chấp thương mại, trong khi luật lệ của Hoa Kỳ rất phức tạp. Mặt khác, với chính sách bảo hộ của mình, Hoa Kỳ lại là người xử và ra phán quyết về vụ kiện, trong khi ta chưa phải là thành viên WTO, nên các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn.


Kết luận:
Do sớm tiếp cận với cơ chế thị trường nên Thuỷ sản Việt Nam đã chủ động tạo cho mình những hành trang cần thiết để từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên khó khăn thách thức đang còn rất nhiều ở phía trước đòi hỏi toàn thể lao động nghề cá từ các nhà quản lý đến nhà nghiên cứu khoa học, nông ngư dân và các doanh nghiệp phải nỗ lực và chủ động hơn nữa trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thuỷ sản Việt Nam, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và chủ động đối phó với cạnh tranh và tranh chấp thương mại ngày càng diễn ra gay gắt trên thị trường quốc tế.

Trần Thị Miêng

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Khai thác, xuất khẩu dầu khí năm 2004 và triển vọng trong thời gian tới (17/12/2004)
Công nghiệp ô tô Việt Nam - tiềm năng cho các nhà đầu tư (17/12/2004)
Phát triển kinh tế biển của Việt Nam- Thực trạng và triển vọng (17/12/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Tài chính Việt Nam trong quá trình hội nhập, phát triển hiện nay
Thời cơ và thách thức (12/12/2004)
Việt Nam với quá trình gia nhập WTO hiện nay (12/12/2004)
Năm 2004 - Du lịch Việt Nam tiếp tục vươn tới mục tiêu trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn (12/12/2004)
Về đầu tư nước ngoài hiện nay ở Việt Nam (12/12/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Đà Nẵng có Phó Chủ tịch UBND thành phố mới
· Lùi thời gian trình dự án Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi)
· TP Phủ Lý (Hà Nam): Xe tải phá nát đường, cuộc sống của người dân bị đảo lộn
· Nga cáo buộc Mỹ hỗ trợ tài chính cho việc thay đổi chế độ tại Ukraine
· Xử phúc thẩm vụ án Dương Chí Dũng: Nóng số tiền "lại quả " 1,66 triệu USD
· Đắk Nông: Quán triệt Quyết định của Bộ Chính trị về Quy chế giám sát và phản biện xã hội
· Nam bộ nắng nóng tiếp tục duy trì, Bắc bộ thời tiết mát mẻ
· Mỹ triển khai 600 quân tới các nước Đông Âu
· Thành lập Mạng lưới Nữ doanh nhân ASEAN
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet