Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 24 tháng 7 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  kythuat@cpv.org.vn
dangcongsan@cpv.org.vn
Giới thiệu một số công ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam ký kết
18:13 | 28/09/2004
Cùng với sự phát triển của nhà nước, pháp luật ngày càng can thiệp vào nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, với phạm vi hoạt động khác nhau, trong đó có lĩnh vực môi trường và tài nguyên. Việc tìm hiểu khung pháp luật quốc tế về môi trường và tài nguyên là rất quan trọng vì sự hiểu biết về khung pháp luật này sẽ rất có ích cho chúng ta trong thời kỳ đổi mới và hoà nhập vào cộng đồng quốc tế khi bước sang thế kỷ XXI là thế kỷ bảo vệ môi trường..
1- Các công ước quốc tế về môi trường
Trong thực tiễn pháp lý quốc tế có thể có những vấn đề nảy sinh, như trong trường hợp một con tàu nước ngoài gây ô nhiễm vùng biển của một quốc gia. Quốc gia ven biển phải có đối sách thế nào? Sẽ xử lý ra sao trong trường hợp ngành công nghiệp nước ngoài gây tác động bất lợi cho môi trường Việt Nam?
Một tổng thể các quy phạm pháp luật trong các Công ước quốc tế về môi trường sẽ là khung pháp luật góp phần đảm bảo sự công bằng và công lý trong đời sống của cộng đồng quốc tế. Đồng thời, điều đó cũng có nghĩa là mỗi quốc gia không chỉ có quyền được có một môi trường trong sạch cần thiết cho sự phát triển bền vững của mình mà còn phải có nghĩa vụ tôn trọng các quyền đó của quốc gia khác.
Các dạng Công ước quốc tế về môi trường
- Điều ước quốc tế: phổ cập toàn cầu, khu vực và điều ước song phương.
- Tập quán quốc tế.
- Các văn bản có tính chất khuyến nghị như các văn bản của tổ chức quốc tế liên chính phủ. Ví dụ: Tuyên bố Stockholm về môi trường và con người năm 1972.
Các nghĩa vụ của quốc gia khi ký kết, tham gia các Công ước quốc tế về môi trường
Các quốc gia có nghĩa vụ thực hiện các công ước khi họ đã tham gia các công ước đó, kể cả những văn bản không có tính ràng buộc về pháp lý (tuyên bố, khuyến nghị,...). Các nghĩa vụ khi các quốc gia tham gia các điều ước quốc tế về môi trường bao gồm:
- Nghĩa vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường
- Nghĩa vụ thông tin về môi trường
- Nghĩa vụ không gây hại về môi trường
- Nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển
- Nghĩa vụ bảo vệ môi trường không khí
- Nghĩa vụ bảo vệ môi trường nước trên đất liền
- Nghĩa vụ bảo vệ sự đa dạng sinh học
- Giải quyết hoà bình các tranh chấp về môi trường.
2- Giới thiệu một số công ước quốc tế về bảo vệ môi trường
Việt Nam đã tham gia một số công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. Dưới đây xin giới thiệu một số công ước quan trọng trong số đó.
Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982
Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 đã được các quốc gia ký kết từ ngày 7 đến 11/12/1982 tại Montego Bay Giamaica. Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước và Công ước đã có hiệu lực vào ngày 16/11/1994.
Công ước gồm có 17 phần, 320 điều và 9 phụ lục, 4 nghị quyết.
Công ước đã dành trọn vẹn phần XII về "Bảo vệ và giữ gìn môi trường biển", gồm có 46 điều, với những nội dung chính sau đây:
* Xác định nguồn ô nhiễm biển: Công ước yêu cầu các quốc gia tiến hành tất cả các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, giảm bớt và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ bất kỳ nguồn nào: từ đất liền (điều 207); ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia gây ra (điều 208); ô nhiễm do tàu thuyền gây ra (điều 211),...
* Quyền hạn của các nước ven biển xử lý các vụ ô nhiễm, quyền hạn của các nước có cảng đối với các phương tiện có khả năng gây ô nhiễm biển, việc xử lý đối với các loại ô nhiễm biển khác (từ điều 213 đến điều 222).
- Điều 211, khoản 4 quy định về quyền hạn và nghĩa vụ trong lãnh hải của quốc gia ven biển.
- Điều 211.f. cho phép quốc gia ven biển ban hành những luật lệ để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm trong lãnh hải của mình.
- Điều 211 còn quy định về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế của mình (không chặt chẽ như những quy định trong lãnh hải).
- Điều 220, khoản 2 cho phép các quốc gia ven biển được quyền thanh tra xét hỏi tàu, làm hồ sơ về các vụ phạm pháp và khi có đủ chứng cớ có thể tiến hành truy tố và ra lệnh bắt giữ tàu, thuyền nước ngoài khi các tàu, thuyền này vi phạm những luật lệ đó.
- Điều 230.2 quy định hình thức xử phạt như phạt tiền, trừ những trường hợp có hành động cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng.
- Điều 198 quy định khi một quốc gia biết được có ô nhiễm xảy ra gây nguy hại cho môi trường biển thì quốc gia đó phải thông báo cho các quốc gia khác có nguy cơ bị ô nhiễm lan tràn đến và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, để kịp thời có những biện pháp ngăn chặn và bảo vệ. Điều 199 quy định trong các trường hợp như vậy, các quốc gia và các tổ chức quốc tế liên quan phải hợp tác với nhau theo khả năng của mình, để hạn chế loại trừ những hậu quả tai hại do ô nhiễm gây ra.
- Điều 202 quy định về nghĩa vụ của các nước đã phát triển giúp đỡ các nước đang phát triển trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục, kinh tế và trong các lĩnh vực khác, nhằm ngăn ngừa ô nhiễm, bảo vệ môi trường biển. Điều 203 yêu cầu tổ chức quốc tế phải dành ưu tiên viện trợ cho các nước đang phát triển về tài chính và kỹ thuật thích hợp, cung cấp những dịch vụ chuyên môn cần thiết cho việc phòng ngừa và chống những hậu quả nguy hiểm do ô nhiễm biển gây ra.
- Công ước cũng quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện các quy định về chống ô nhiễm biển, trách nhiệm của quốc gia gây ô nhiễm cũng được quy định một cách chi tiết. Về cơ bản, công ước dành quyền bảo đảm thi hành pháp luật về chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường biển cho quốc gia ven biển, quốc gia có cảng và quốc gia mà tàu mang cờ.
Nhìn chung, các điều khoản của phần XII không những là hình thức văn bản Luật thông thường mà nó còn mang tính chính trị, thể hiện nỗ lực của các quốc gia trên thế giới nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý tổng thể, có hiệu lực trên một phạm vi toàn cầu cho việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, trên tinh thần hợp tác quốc tế kể cả trợ giúp kỹ thuật, đánh giá tác động môi trường và áp dụng các quy định, tiêu chuẩn quốc tế.
Công ước quốc tế về ngăn chặn ô nhiễm từ tàu (Công ước MARPOL 1973/1978)
Công ước này được bổ sung bằng nghị định thư 1978 cấm và hạn chế thải chất gây ô nhiễm từ việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Công ước MARPOL 1973/1978 thay thế Công ước 1954 và đưa ra thêm những biện pháp bổ sung để ngăn chặn ô nhiễm biển do dầu. Công ước có hiệu lực vào năm 1983.
Mục đích của Công ước là thông qua các biện pháp toàn diện nhằm ngăn chặn việc gây ô nhiễm biển bừa bãi do thải chức năng từ tàu tất cả các chất có hại đã biết, trừ các chất phóng xạ. Công ước (và cả Nghị định thư) bao gồm các điều khoản quy định về nghĩa vụ của các quốc gia thành viên và các quy định pháp lý khác cũng như các Nghị định thư và các Phụ lục của Công ước.
Nghị định thư I quy định thủ tục chuyển thông tin liên quan đến việc thải các chất độc hại xuống biển. Nghị định thư II quy định thủ tục giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia về việc giải thích và thực hiện Công ước.
Các phụ lục của Công ước MARPOL 1973/1978 bao gồm chủ yếu các quy định có tính chất kỹ thuật.
Ngoài ra, Công ước MARROL 1973/1978 dành cho các quốc gia thành viên những quyền lớn hơn đối với việc kiểm soát các tàu nước ngoài. Công ước dành cho quốc gia có cảng quyền kiểm tra tàu nước ngoài mang cờ của quốc gia thành viên khác, nếu có lý do để nghi ngờ rằng tàu đó đã thải bất hợp pháp ngoài các vùng biển thuộc quyền tài phán của các quốc gia khác.
Công ước đa dạng sinh học 1992
Công ước đa dạng sinh học được Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển thông qua năm 1992. Công ước đã được 1152 quốc gia ký sau 3 năm thương lượng. Đây là một công ước toàn diện và quan trọng nhất cho việc bảo vệ sự đa dạng sinh học, đồng thời cũng là một đóng góp to lớn cho việc phát triển luật môi trường.
Công ước đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về sự đa dạng sinh học: “Đa dạng sinh học có nghĩa là tính biến thiên (đa dạng) giữa các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, trên biển, các hệ sinh thái thủy vực khác và các tập hợp sinh thái mà chúng là một phần. Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi bộ, loài, giữa các loài và các hệ sinh thái”.
Công ước cũng quy định một số nguyên tắc lớn về bảo vệ sự đa dạng sinh học.
“Các quốc gia, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc luật pháp quốc tế có toàn quyền khai thác các tài nguyên của họ theo các chính sách mà họ đề ra; và có trách nhiệm bảo đảm rằng các hoạt động trong phạm vi thẩm quyền hay kiểm soát của họ không làm phương hại đến môi trường của các quốc gia khác hoặc các khu vực không thuộc thẩm quyền quốc gia”.
Công ước còn quy định nghĩa vụ của các thành viên Công ước về sự đa dạng sinh học. Một trong các nghĩa vụ có tính quan trọng là:
Các thành viên có nghĩa vụ đánh giá tác động môi trường khi tiến hành các dự án có thể có tác động có hại đáng kể cho sự đa dạng sinh học, nhằm mục đích là các hậu quả về môi trường của các chương trình và chính sách có thể có những tác động trên, được xem xét một cách thận trọng.
Các thành viên phải ban hành luật lệ và các biện pháp pháp lý khác, nhằm tạo điều kiện cho các quốc gia thành viên cung cấp nguồn gien, đặc biệt là các nước đang phát triển sử dụng nguồn gien này, trong đó có các kỹ thuật được bảo vệ bởi các sáng chế và các quyền sở hữu công nghiệp (Điều l6.3).
Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước - Công ước RAMSA ngày 2/2/1971
Công ước này được sửa đổi theo Nghị định thư Paris ngày 3/12/1982.
Công ước coi chức năng sinh thái cơ bản của các vùng đất ngập nước như là nơi để điều hoà các chế độ nước và là nơi cư trú cho một hệ động và thực vật đặc trưng, đặc biệt là loài chim nước. Công ước xác định các vùng đất ngập nước tạo ra một nguồn tài nguyên có giá trị lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học và giải trí, mà sự tổn thất của chúng sẽ không thể cứu chữa nổi.
Công ước quy định đất ngập nước là những vùng đầm lầy, sình lầy, than bùn hoặc vùng nước dù là thiên nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, với nước đọng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ, hay nước mặn, bao gồm cả các vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi thuỷ triều thấp (điều 1)
Công ước quy định mỗi bên tham gia Công ước sẽ chỉ định ra những vùng đất ngập nước thích hợp trong phạm vi lãnh thổ của mình để đưa vào Danh mục các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (điều 2, khoản 1).
Các vùng đất ngập nước được lựa chọn đưa vào Danh mục phải có tầm quan trọng quốc tế về phương diện sinh thái học, thực vật học, hồ học và thuỷ văn học. Trước hết là những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đối với loài chim nước ở bất cứ mùa nào (điều 2, khoản 2).
Công ước còn quy định các bên tham gia Công ước sẽ xây dựng và thực hiện quy hoạch của mình nhằm đẩy mạnh việc bảo vệ các vùng đất ngập nước đã đưa vào Danh mục, sử dụng khôn khéo các vùng đất ngập nước trong phạm vi lãnh thổ của mình.
Điều 10 Công ước quy định rõ: “Công ước này sẽ có hiệu lực đối với mỗi bên tham gia sau 4 tháng kể từ ngày bên tham gia ký phê chuẩn không bảo lưu hoặc kể từ ngày nộp văn kiện phê chuẩn hoặc văn kiện gia nhập”.
Việt Nam đã ký phê chuẩn Công ước này vào ngày 20/9/1988, và đã chọn vùng đất ngập nước Xuân Thuỷ, tỉnh Nam Định là khu vực RAMSA cần bảo vệ.

Công ước BASEL 1989 không phải là một Công ước chỉ điều chỉnh các hoạt động liên quan trực tiếp tới ô nhiễm môi trường biển. Đây là Công ước điều chỉnh mọi hoạt động vận chuyển chất thải nguy hại giữa các quốc gia, trong đó có vận chuyển qua đường biển. Công ước tạo thành cùng các công ước về ô nhiễm môi trường biển khác một chế độ quản lý chung các chất gây ô nhiễm biển. Công ước này có hiệu lực ngày 5/5/1992 và hiện có hơn 80 thành viên. Việt Nam tham dự Công ước ngày 13/5/1995.
Theo Công ước thì "Vận chuyển xuyên biên giới" được hiểu là mọi vận chuyển các chất thải nguy hiểm hoặc các chất thải khác từ một vùng thuộc quyền tài phán của một quốc gia đến hoặc quá cảnh một vùng thuộc quyền tài phán của một quốc gia khác, hoặc đến hay đi qua một vùng không thuộc quốc gia nào, miễn sao có 2 quốc gia liên quan trong việc vận chuyển này.
Trong công ước, thuật ngữ "các vùng thuộc quyền tài phán quốc gia" được hiểu là mọi vùng đất liền, vùng biển, vùng trời tại đó quốc gia thực hiện trách nhiệm quản lý hành chính và lập pháp nhằm bảo vệ sức khoẻ con người và môi trường có liên quan tới việc sản sinh, nhập khẩu, xuất khẩu và tiêu huỷ các chất thải.
Nguyên tắc cơ bản của Công ước là đồng ý và thông báo trước. Mỗi bên tham gia công ước thông báo cho Ban Thư ký công ước trong thời hạn 6 tháng sau khi trở thành thành viên Công ước, danh sách các chất thải, ngoài các chất thải đã ghi trong Phụ lục I và II, được coi hoặc được xác định là nguy hiểm bởi luật pháp quốc gia, cũng như tất cả các điều khoản liên quan đến thủ tục về vận chuyển qua biên giới áp dụng cho các loại chất thải này.
Các quốc gia có thể quy định bằng pháp luật việc cấm nhập các chất thải nguy hiểm. Nếu cho phép nhập khẩu thì bên nhập phải có cơ sở tiêu huỷ và điều kiện tiêu huỷ thích hợp. Quốc gia xuất khẩu chỉ được phép xuất chất thải sang các nước có điều kiện trên và được sự đồng ý bằng văn bản của quốc gia nhập khẩu. Quốc gia hoặc người xuất khẩu chất thải bất hợp pháp phải chịu trách nhiệm vận chuyển lại chất thải đó về lại nước xuất khẩu ban đầu và tiêu huỷ chúng trong thời hạn 30 ngày.
Ngoài các công ước quốc tế quan trọng trên, Việt Nam còn tham gia vào nhiều công ước khác liên quan đến môi trường. Theo thống kê cho đến năm 2003, Việt Nam đã tham gia 23 công ước quốc tế về môi trường. Về các văn bản riêng trong việc thực hiện các công ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam tham gia có thể kể tới là: Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học; Chương trình quốc gia nhằm loại trừ dần các chất làm suy giảm tầng ô zôn; Chương trình về biến đổi khí hậu; Chương trình quốc gia về quy hoạch khu bảo tồn biển; Chương trình bảo tồn và quản lý đất ngập nước; Kế hoạch quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu...
Các văn bản này tuy không phải văn bản pháp quy nhưng lại là văn bản có tính tổng hợp về chính sách và các biện pháp chủ yếu nhằm làm cơ sở cho việc ban hành các quy định cụ thể trong việc thực hiện các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.

Nguyễn Thu Hà
Ban Biên giới Bộ Ngoại giao

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Công bố kết luận đơn tố cáo đối với Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương
· Bộ Y tế nghiêng về phương án sẽ cấm bán rượu bia sau 22 giờ
· Trung Quốc: Tai nạn máy bay ở Đài Loan làm hàng chục người thiệt mạng
· Kỳ thi Olympic Hóa học quốc tế 2014: Môn thi Thực hành diễn ra an toàn, chất lượng
· “Phải báo đáp thế nào cho xứng đáng”
· Tăng cường hoạt động đấu tranh đòi công lý cho nạn nhân da cam
· LHQ hoan nghênh động thái chấm dứt bế tắc chính trị tại Campuchia
· Quốc hội Malaysia yêu cầu điều tra toàn diện vụ rơi MH17
· Quá buồn vì bóng đá Việt Nam
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet