Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 29 tháng 11 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em hướng dẫn nội dung tuyên truyền Pháp lệnh dân số
13:44 | 30/03/2004
Để việc tuyên truyền, giáo dục PLDS được đầy đủ và định hướng dư luận xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số của Đảng và Nhà nước, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em hướng dẫn những nội dung cơ bản trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục PLDS như sau:
I- Mục đích, yêu cầu tuyên truyền, phổ biến giáo dục PLDS
1- Mục đích
Tuyên truyền phổ biến kịp thời, đầy đủ nội dung PLDS tới các tầng lớp nhân dân, để mọi người hiểu và nắm được chủ trương, chính sách dân số của Đảng và Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu chính sách dân số: Duy trì mỗi cặp vợ chồng có từ một đến hai con để ổn định quy mô dân số, bảo đảm cơ cấu dân số và phân bố dân cư hợp lý, nâng cao chất lượng dân số.
2- Yêu cầu
2.1. Tiếp tục duy trì xu thế giảm sinh vững chắc để đạt mức sinh thay thế tiến tới ổn định quy mô dân số hợp lý.
2.2. Tiếp tục đẩy mạnh và tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục PLDS và chính sách dân số của Đảng và Nhà nước, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của 6 tháng cuối năm 2003 nhằm thực hiện kế hoạch năm 2003 theo mục tiêu Quốc hội đã đề ra và mục tiêu cụ thể của từng bộ, ngành và địa phương.
2.3. Nội dung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục PLDS tập trung vào những vấn đề như chất lượng dân số, xây dựng gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và những vấn đề mang tính thời sự cấp bách nhằm tạo dư luận xã hội định hướng đúng việc thực hiện chính sách dân số của Đảng và Nhà nước.
2.4. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục PLDS bằng nhiều hình thức phong phú đa dạng, chú trọng hiệu quả, không phô trương, hình thức.
II- Nội dung chủ yếu trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục PLDS
1- Những vấn đề chung của PLDS
1.1. PLDS là văn bản quy phạm pháp luật, là cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện công tác dân số và nâng cao trách nhiệm của công dân, gia đình, Nhà nước và xã hội trong công tác dân số.
1.2. PLDS điều chỉnh toàn diện vấn đề dân số, bao gồm quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và chất lượng dân số, các biện pháp thực hiện công tác dân số.
1.3. PLDS đặt con người vào vị trí trung tâm và là động lực của sự phát triển, bảo đảm việc chủ động, tự nguyện của mỗi công dân trong việc phát triển toàn diện bản thân phù hợp với yêu cầu của sự phát triển đất nước.
1.4. PLDS đã thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực dân số, trong đó đặt công tác dân số là một cuộc vận động lớn, lấy tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục làm giải pháp cơ bản để thực hiện công tác dân số.
1.5. PLDS phù hợp với công ước, điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
2- Một số nội dung cụ thể theo định hướng của PLDS
2.1. Chương I. Những quy định chung cần định hướng các nội dung sau:
a) Công tác dân số có ba nguyên tắc cơ bản là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bảo đảm việc chủ động, tự nguyện, bình đẳng của mỗi cá nhân, gia đình trong việc thực hiện mục tiêu chính sách dân số và nguyên tắc kết hợp giữa quyền, lợi ích của cá nhân, gia đình với lợi ích của cộng đồng và toàn xã hội bằng việc thực hiện gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Như vậy, xây dựng gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững là mục tiêu để hướng tới, để trở thành chuẩn mực xã hội và đảm bào hài hoà lợi ích cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội.
b) Việc quy định quyền, nghĩa vụ của công dân về công tác dân số thể hiện tư tưởng chủ đạo coi con người là mục tiêu, là động lực của sự phát triển. Bảo đảm quyền lựa chọn các biện pháp để thực hiện quyền con người của chính bản thân mỗi người, bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của mỗi công dân không chỉ đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình mà còn đem lại lợi ích cho Nhà nước, xã hội và cộng đồng. Quyền đi đôi với nghĩa vụ và phù hợp với các quy định pháp luật.
c) Quy định về trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức trong công tác dân số thể hiện sự cam kết chính trị mạnh mẽ của Nhà nước, thể hiện vai trò tham gia có hiệu quả của cơ quan, tổ chức trong công tác dân số. Quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức còn để bảo vệ và tôn trọng quy chế, điều lệ hoặc quy định bằng các hình thức khác của các cơ quan, tổ chức và các hương ước, quy ước của cộng đồng trong việc thực hiện mục tiêu chính sách dân số.
d) Quy định các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo đảm sự tự nguyện của nhân dân, hạn chế việc lợi dụng công tác dân số để thực hiện những hành vi làm tổn hại đến sức khoẻ, trái với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, trái với quy định của pháp luật.
2.2. Mục 1. Quy mô dân số cần định hướng các nội dung sau:
a) Mục đích điều chỉnh quy mô dân số phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên, môi trường, mà trực tiếp là duy trì vững chắc xu thế giảm sinh sớm đạt mức sinh thay thế, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý, tạo điều kiện để phát triển nhanh và bền vững đất nước.
b) Chính sách dân số của nước ta từ năm 1961 đến nay là nhất quán nhằm giảm tỷ lệ sinh, điều chỉnh sự gia tăng dân số phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, gia đình hạnh phúc.
c) Biện pháp để điều chỉnh mức sinh là thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Kế hoạch hóa gia đình là cuộc vận động rộng lớn nhằm bảo đảm cho cặp vợ chồng, cá nhân được tiếp nhận thông tin đầy đủ, chính xác để quyết định tự nguyện và có trách nhiệm về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh. Thời gian sinh con tốt nhất là từ 22 tuổi đến 35 tuổi đối với phụ nữ, khoảng cách sinh hợp lý là từ 3 đến 5 năm và mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ một đến hai con để nuôi dạy cho tốt. Mỗi cặp vợ chồng có từ một đến hai con là cơ sở bảo đảm trong toàn xã hội thực hiện được mục tiêu mức sinh thay thế, tiến tới ổn định quy mô dân số hợp lý và sự phát triển bền vững của đất nước.
d) Biện pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch hóa gia đình là tuyên truyền, vận động, giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ kế hoạch hóa gia đình có chất lượng, thuận tiện, an toàn và đến tận người dân, có chính sách mang lại lợi ích trực tiếp cho người chấp nhận gia đình ít con, tạo động lực thúc đẩy phong trào quần chúng thực hiện kế hoạch hóa gia đình sâu rộng trong nhân dân, huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình.
e) PLDS còn định hướng rõ quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc quyết định chương trình, dự án về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hóa gia đình phù hợp với điều kiện cụ thể của từng cơ quan, tổ chức và địa phương.
2.3. Mục 2. Cơ cấu dân số
a) Mục đích điều chỉnh cơ cấu dân số nhằm bảo đảm cơ cấu dân số hợp lý, nhất là cơ cấu về giới tính, độ tuổi và việc bảo toàn, phát triển một số dân tộc ít người.
b) Nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức nhằm bảo đảm bình đẳng giới, cân bằng giới tính khi sinh theo quy luật sinh sản tự nhiên và ổn định trật tự xã hội trong hiện tại và tương lai.
c) Do giảm sinh và tuổi thọ tăng, làm cơ cấu dân số nước ta chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu dân số già. Vì vậy, phải tính phát triển các loại dịch vụ xã hội phục vụ người cao tuổi ngày càng tăng về số lượng và tỉ trọng trong tương lai.
d) Bảo vệ và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát triển, thực hiện xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuyên truyền và đáp ứng nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hóa gia đình để đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện sinh sản và nuôi dạy con có khoa học, nâng cao chất lượng dân số.
2.4. Mục 3. Phân bố dân cư
a) Mục đích điều chỉnh phân bố dân cư nhằm bảo đảm sự cân đối giữa phân bố dân cư với phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực, vùng địa lý kinh tế, đơn vị hành chính. Thực hiện quản lý dân cư thống nhất trong phạm vi cả nước.
b) Biện pháp điều chỉnh phân bố dân cư là chủ động quy hoạch, lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội khai thác tiềm năng vùng mật độ dân cư thấp, tạo động lực thu hút dân cư từ nơi có mật độ dân cư cao, hạn chế động lực di dân tự phát, quản lý lao động lưu động tại các thành phố, thực hiện các chương trình dự án di dân có kế hoạch để xây dựng vùng kinh tế mới, định canh định cư, xây dựng khu công nghiệp, dịch vụ, khu dân cư mới có điều kiện sống và sinh hoạt thuận lợi.
2.5. Chương III. Chất lượng dân số
a) Mục đích điều chỉnh chất lượng dân số nhằm nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần của mỗi người dân và toàn bộ dân số. Nâng chỉ số phát triển con người của nước ta lên mức trung bình tiên tiến của thế giới.
b) Biện pháp nâng cao chất lượng dân số là tuyên truyền, giáo dục và giúp đỡ nhân dân thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số; đa dạng hóa các loại hình cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng; hỗ trợ vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
c) Tổ chức thực hiện nâng cao chất lượng dân số, trước hết là đối với chất lượng dân số của cộng đồng. Tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân thực hiện các biện pháp bảo vệ sức khoẻ, bảo đảm điều kiện học tập, rèn luyện, giải trí, phát triển toàn diện và tổ chức cuộc sống, sinh hoạt theo phương pháp khoa học.
d) Khuyến khích và tạo điều kiện cho nam, nữ kiểm tra sức khoẻ trước khi đăng ký kết hôn, kiểm tra sức khoẻ bệnh di truyền đối với người có tiền sử gia đình về bệnh tâm thần, dị tật bẩm sinh, người bị nhiễm chất độc hóa học nguy hiểm... để tư vấn và giúp họ hiểu biết về ảnh hưởng của bệnh tật đối với việc sinh con.
e) Tổ chức, hướng dẫn và giúp đỡ gia đình xây dựng gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Tuyên truyền, giáo dục nhằm loại trừ mọi hình thức phân biệt giới, phân biệt đối xử giữa con trai và con gái.
Khuyến khích duy trì gia đình nhiều thế hệ để phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta trong hiện tại và tương lai.
III- Những điểm cần lưu ý trong tuyên truyền, phổ biến giáo dục PLDS
1- Khi tuyên truyền, giáo dục PLDS cần nắm vững tính thống nhất và lô gích của từng điều khoản, từng quy định liên quan chặt chẽ với nhau, không cắt đoạn hoặc suy diễn trái với mục đích điều chỉnh của PLDS.
2. Chính sách dân số của Đảng và Nhà nước ta là tuyên truyền, vận động và giáo dục để nhân dân thực hiện các quyết định một cách tự nguyện và có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội. Vì vậy, không nên nhấn mạnh một cách thiên lệch về quyền hoặc nghĩa vụ nhằm tránh cách hiểu thiên lệch về tự do hay bắt buộc như "không hạn chế số con", "đẻ thoải mái" hoặc cho rằng nếu sinh con một bề thì được sinh con thứ ba... Đó là những dư luận không đúng cần được uốn nắn kịp thời.
Pháp luật dành cho mỗi cá nhân, cặp vợ chồng quyền quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh, nhưng đây là một quyền có điều kiện. Quyết định tự nguyện và có trách nhiệm của mỗi cặp vợ chồng trong việc sinh đẻ vừa phải phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng, vừa phải phù hợp với mục tiêu chính sách dân số và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng và đất nước nói chung. Chỉ khi quyết định của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng phù hợp với các điều kiện trên thì quyết định đó mới thực sự đúng đắn, hài hoà và được tôn trọng, bảo vệ.
3- Sự gương mẫu thực hiện mục tiêu chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đảng viên, cán bộ, công chức nhà nước, sĩ quan và chiến sĩ lực lượng vũ trang là yếu tố hết sức quan trọng đảm bảo cho cuộc vận động toàn thể nhân dân thực hiện mục tiêu này. Truyền thống tốt đẹp "cán bộ, đảng viên đi trước, làng nước theo sau” đã được hình thành trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh cách mạng và xây dựng Tổ quốc do Đảng ta lãnh đạo. Do vậy, đảng viên, cán bộ, công chức nhà nước, sĩ quan và chiến sĩ lực lượng vũ trang có trách nhiệm gương mẫu thực hiện chính sách dân số, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (khóa VII) về chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, chỉ thị 50-CT/TW ngày 06/3/1995 của Ban bí thư Trung ương Đảng.
4. Dân số là vấn đề nhạy cảm, vì vậy không nên bình luận thiên lệch về việc khen thưởng và xử phạt khi thực hiện chính sách dân số, vì dễ dẫn đến việc hiểu không đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước vốn được xây dựng dựa trên nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền con người.
5. Dân số nước ta hiện đã có quy mô hơn 80 triệu người và vẫn tiếp tục tăng nhiều trong tương lai, chất lượng dân số còn thấp, phân bố dân cư và cơ cấu dân số chưa thật hợp lý. Vì vậy, việc điều chỉnh hợp lý quy mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư không phải là giải pháp ngắn hạn mà là những chính sách và luật pháp có tác dụng định hướng lâu dài, đòi hỏi khả năng dự báo, nhằm đưa ra những chính sách, kế hoạch phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đề nghị các bộ, ban, ngành, đoàn thể, Ủy ban nhân dân các cấp nghiên cứu, quán triệt để chỉ đạo tốt việc tuyên truyền, giáo dục và phổ biến chính sách dân số của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống, đảm bảo tính khả thi của Pháp lệnh dân số.

BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
ỦY BAN DÂN SỐ, GIA ĐÌNH VÀ TRẺ EM

(đã ký)

Lê Thị Thu

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Từ ngày 1-4-2009: Tổ chức tổng điều tra dân số và nhà ở (12/07/2008)
Phê duyệt bổ sung danh mục dự án do UNICEF tài trợ (18/01/2007)
Hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (13/04/2005)
Nghị quyết của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (13/04/2005)
Pháp lệnh dân số

Số : 06/2003/PL-UBTVQH11

(01/11/2004)
Pháp lệnh dân số

Số : 06/2003/PL-UBTVQH11

(01/11/2004)
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (19/08/2004)
Chủ trương – chính sách của Đảng, Nhà nước về dân số và phát triển (23/07/2004)
Việt Nam đã thực hiện đầy đủ cam kết với Quỹ dân số Liên hiệp quốc (09/07/2004)
Nghị định của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số (30/03/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010 (11/03/2004)
Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010 (11/03/2004)
Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010 (11/03/2004)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư (số 04-NQ/HNTW ngày 14/1/1993) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách DS-KHHGĐ trong thời gian tới (Trích) (11/03/2004)
Chiến lược Truyền thông - Giáo dục chuyển đổi hành vi về Dân số - SKSS/KHHGĐ giai đoạn 2001 – 2005 (10/03/2004)
Chiến lược Truyền thông - Giáo dục chuyển đổi hành vi về Dân số - SKSS/KHHGĐ giai đoạn 2001 – 2005 (10/03/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Dự báo trong 24 giờ tới, áp thấp nhiệt đới di chuyển chủ yếu theo hướng Tây Tây Bắc
· Thẩm quyền công bố dịch động vật có nên thuộc Chủ tịch UBND cấp tỉnh?
· Lãnh đạo Nga và Ukraine điện đàm quan hệ song phương
· Thông hầm đường bộ dài 720m tuyến cao tốc Nội Bài-Lào Cai
· Ấn Độ: Xung đột tại Kashmir, ít nhất 9 người thiệt mạng
· Đồng chí Hồ Quốc Dũng làm Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định
· Honda Việt Nam ở trong tốp 10 tập đoàn đóng thuế nhiều nhất
· Áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông gây gió mạnh cấp 9, Bắc bộ nhiệt độ cao nhất 31 độ C
· Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội kiến Chủ tịch Thượng viện Belarus
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet