Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 3 tháng 9 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  bandoc.dcsvn@gmail.com
thuky.dcsvn@gmail.com
Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010
Uỷ ban quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình
16:11 | 11/03/2004

Phần thứ hai:
Những vấn đề đặt ra của chiến lược dân số 2001-2010

I. Bối cảnh kinh tế - xã hội Chiến lược dân số 2001-2010 sẽ được triển khai trong tình hình đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị và xã hội. Sau 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000, nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao nhất từ trước đến nay, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng gấp đôi(1). Sự tiến bộ, công bằng xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ các hộ đói nghèo giảm đáng kể, từ 30% năm 1992 xuống còn 10% năm 2000(1). Tuổi thọ bình quân và trình độ dân trí được nâng cao. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao nhờ đường lối cải cách, mở cửa đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.
Phát huy những thành tựu đã đạt được trong thập kỷ cuối của thế kỷ 20, bước vào thế kỷ 21, nhân dân ta tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2001- 2010 theo định hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, đạt bước tiến mạnh mẽ trong việc thực hiện mục tiêu “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Đây chính là cơ sở để xác định những ưu tiên cần tập trung giải quyết của chiến lược dân số 2001- 2010.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo, GDP bình quân đầu người còn thấp, dưới mức nghèo khổ theo tiêu chuẩn quốc tế. Trình độ phát triển của ta còn thấp hơn nhiều so với các nước trung bình trong khu vực và trên thế giới. Nền kinh tế đang đứng trước những thách thức gay gắt hơn trong tiến trình phát triển và hội nhập như: chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp; nghèo đói, thất nghiệp, thiếu việc làm còn cao; còn có sự cách biệt lớn về phát triển kinh tế-xã hội và mức sống giữa thành thị-nông thôn và các vùng; môi trường bị ô nhiễm nặng nề. Quy mô dân số lớn và còn tiếp tục gia tăng, chất lượng dân số chưa cao, phân bố dân cư chưa hợp lý vẫn đang là thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống.
II. Những thách thức của vấn đề dân số đối với sự phát triển bền vững
1. Qui mô dân số lớn và ngày càng tăng vẫn là những cản trở lớn đối với sự phát triển đất nước.
Với số dân 76,3 triệu người vào thời điểm 01/4/1999, Việt Nam là quốc gia có qui mô dân số lớn thứ 2 ở Đông Nam á và thứ 13 trên thế giới. Tiềm năng gia tăng dân số còn lớn do cơ cấu dân số trẻ và số phụ nữ 15- 49 tuổi vẫn tăng ở mức cao, từ 21,1 triệu năm 2000 lên 25,5 triệu năm 2010( ). Mặc dù tỷ lệ sinh đã giảm nhanh trong thập kỷ qua và tiếp tục giảm, nhưng trong 10 năm tới, dân số nước ta vẫn tăng thêm trung bình mỗi năm khoảng từ 1 triệu đến 1,1 triệu(2). Kết quả giảm sinh từ nay đến 2010 có ý nghĩa quyết định đến việc ổn định quy mô dân số ở mức cao hay thấp. Dân số Việt Nam sẽ ổn định vào giữa thế kỷ 21. ở mức cao, qui mô dân số ổn định có thể trên 122 triệu; còn ở mức thấp, dân số sẽ dưới 113 triệu(2). Điều đó có thể ảnh hưởng lớn đến tính bền vững và tốc độ phát triển kinh tế- xã hội.
2. Kết quả giảm sinh chưa thực sự vững chắc.
Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên giảm chậm và vẫn còn cao, năm 1999 vẫn chiếm khoảng 1 phần 3 tổng số sinh trong năm. Mức sinh còn chênh lệch nhiều giữa các tỉnh: mới chỉ có 20 tỉnh/thành phố đạt mức sinh thay thế hoặc thấp hơn, trong khi đó mức sinh ở vùng núi, trung du phía Bắc, Bắc Trung bộ, Duyên hải miên Trung và Tây nguyên còn cao. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại ở mức trung bình: 55,8% và vẫn còn 19,5% sử dụng biện pháp tránh thai truyền thống, hiệu quả tránh thai thấp( ). Tư tưởng trọng nam hơn nữ vẫn là yếu tố cản trở đến việc chấp nhận và thực hiện gia đình ít con. Việc mang thai ngoài ý muốn và tình trạng nạo phá thai là đáng lo ngại, nhất là ở lứa tuổi vị thành niên. Tư tưởng chủ quan, thoả mãn với kết quả giảm sinh đã xuất hiện. Đầu tư kinh phí cho chương trình dân số có xu hướng giảm.
3. Cơ cấu dân số trẻ và đang chuyển dần sang cơ cấu dân số già tạo ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế- xã hội.
Do giảm sinh nhanh và tuổi thọ tăng, dân số nước ta bắt đầu chuyển sang qúa trình già hoá. Tuổi trung vị sẽ tăng từ 23,2 năm 2000 lên 27,1 năm 2010; số trẻ em dưới 15 tuổi mặc dù giảm từ 26,0 triệu năm 2000 xuống 21,8 triệu năm 2010(2), nhưng vẫn ở mức cao, tạo nên những thách thức lớn cho gia đình và xã hội trong việc nuôi dạy, đào tạo và tạo việc làm cho thế hệ trẻ. Người già từ 60 tuổi trở lên sẽ tăng từ 6,3 triệu năm 2000 lên 6,9 triệu năm 2010(2), làm tăng nhu cầu đảm bảo phúc lợi xã hội và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ người già. Số người từ 15-59 tuổi tăng từ 45,4 triệu năm 2000 lên 58,7 triệu năm 2010(2): đây sẽ là tiềm năng to lớn cho sự phát triển đất nước, nếu lực lượng này được đào tạo và được sử dụng hợp lý. Ngược lại, chính lực lượng này sẽ là áp lực lớn đối với sự phát triển nếu không được đào tạo thích hợp và không có đủ việc làm ổn định.
4. Chất lượng dân số còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Các tố chất về thể lực của người Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt là chiều cao, cân nặng và sức bền. Tỷ lệ trẻ sơ sinh nặng dưới 2500 gram chiếm 8% năm 1998(2). Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cao, chiếm 36.7% năm 1999( ). Đáng lưu ý là vẫn còn 1,5% dân số bị thiểu năng về thể lực và trí tuệ( ). Số người nhiễm HIV/AIDS ngày càng tăng. Số năm học bình quân đầu người thấp, mới đạt 6,2 năm/người vào năm 1997-1998(2) . Tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt khoảng 20%, so với từ 50% trở lên ở các nước khác(2), làm cho khả năng tiếp thu khoa học và công nghệ mới gặp khó khăn. Chỉ có 2,09% dân số tốt nghiệp cao đẳng, đại học; trình độ thạc sĩ trở lên chiếm 0,06%(2).
5. Di dân tự do và những biến động của lực lượng lao động là những thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong cả hiện tại và tương lai:
Bên cạnh những mặt tích cực, di dân tự do và sự di chuyển của lực lượng lao động theo mùa vụ đã và đang trực tiếp làm trầm trọng thêm việc đáp ứng những dịch vụ xã hội cơ bản, gây ô nhiễm môi trường sống, tàn phá tài nguyên và gia tăng các tệ nạn xã hội. Cho đến nay, di dân tự do và sự di chuyển của lực lượng lao động theo mùa vụ vẫn chưa được quản lý để phát huy mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững kinh tế-xã hội của đất nước.

Tiếp >>>

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Từ ngày 1-4-2009: Tổ chức tổng điều tra dân số và nhà ở (12/07/2008)
Phê duyệt bổ sung danh mục dự án do UNICEF tài trợ (18/01/2007)
Hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (13/04/2005)
Nghị quyết của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (13/04/2005)
Pháp lệnh dân số

Số : 06/2003/PL-UBTVQH11

(01/11/2004)
Pháp lệnh dân số

Số : 06/2003/PL-UBTVQH11

(01/11/2004)
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (19/08/2004)
Chủ trương – chính sách của Đảng, Nhà nước về dân số và phát triển (23/07/2004)
Việt Nam đã thực hiện đầy đủ cam kết với Quỹ dân số Liên hiệp quốc (09/07/2004)
Nghị định của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số (30/03/2004)
 Trang 1 / 2 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010 (11/03/2004)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư (số 04-NQ/HNTW ngày 14/1/1993) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách DS-KHHGĐ trong thời gian tới (Trích) (11/03/2004)
Chiến lược Truyền thông - Giáo dục chuyển đổi hành vi về Dân số - SKSS/KHHGĐ giai đoạn 2001 – 2005 (10/03/2004)
Chiến lược Truyền thông - Giáo dục chuyển đổi hành vi về Dân số - SKSS/KHHGĐ giai đoạn 2001 – 2005 (10/03/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Lãnh đạo Đảng, Nhà nước viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ
· Nhớ lại Bản "Tuyên ngôn độc lập"
· Những mốc son đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới
· 114 người chết vì tai nạn giao thông trong dịp nghỉ lễ 2/9
· Nhật Bản, Ấn Độ cam kết thúc đẩy hợp tác an ninh và kinh tế
· Lào sẵn sàng cho Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục ASEAN lần thứ 8
· Thổ Nhĩ Kỳ triệu Đại biện lâm thời Mỹ vì cáo buộc do thám
· Nga khởi công xây dựng đường ống dẫn khí đốt đầu tiên sang châu Á
· Lào Cai: Xe khách cùng toàn bộ hành khách lao xuống vực sâu
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : thuky.dcsvn@gmail.com
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet