Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 28 tháng 7 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  kythuat@cpv.org.vn
dangcongsan@cpv.org.vn
Nuôi trồng rong biển: Hướng thu nhập cho người dân vùng biển Bình Thuận
16:59 | 28/09/2009

(ĐCSVN) - Việt Nam có vị trí địa kinh tế - chính trị đặc biệt quan trọng trong khu vực Đông Nam Á. Biển Việt Nam giữ vai trò quan trọng về môi trường, sinh thái của khu vực, là vùng chuyển tiếp đặc biệt giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương về mặt địa lý, sinh thái và hàng hải. Sự phát triển của nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá chắc chắn phải gắn kết với lợi thế và tiềm năng to lớn của biển.

Thế nhưng, vùng biển Việt Nam đang phải chịu nhiều áp lực, đứng trước nhiều nguy cơ, đòi hỏi phải thực hiện một loạt giải pháp cần thiết để phát triển thực sự bền vững.

Nói đến Bình Thuận người ta hay nhắc đến câu “Rừng vàng, biển bạc”. Mà thực tế đúng vậy, thiên nhiên đã ưu đãi cho Bình Thuận những điều kiện tốt hơn những nơi khác để phát triển kinh tế về rừng, về biển. Nhắc đến kinh tế biển ở Bình Thuận, người ta không quên nhắc đến những thành công mới đây của những nhân tố, điển hình mới. Những con người đã đưa được món quà của biển - Rong nho biển (Caulerpa lentillifera) vào vùng đất nắng và gió này.

Những chùm rong biển xanh nõn, nhỏ li ti mà người dân vùng biển Bình Thuận quen gọi là rong nho biển có đặc tính dễ nuôi trồng, ít tốn công lại được giá. Nhiều người hy vọng, sản xuất rong nho biển sẽ là bài toán kinh tế giúp người dân miền biển thoát nghèo.

Nhiều người nuôi rong nho biển tại Bình Thuận không nhớ chính xác rong nho đã du nhập vào Việt Nam như thế nào, họ chỉ nhớ rằng đấy là do tình cờ các doanh nghiệp Nhật đem vào nuôi trồng thử ở nước ta cách đây vài năm. Sau đó, đến năm 2007, Viện Hải dương học Nha Trang đã thử nuôi trồng tại khu vực Bình Thuận. Kết quả thật bất ngờ, giống rong nho này hoàn toàn có thể thích nghi và phát triển rất tốt. Và giờ đây, rong nho biển đã trở thành món quà quý dành cho người dân vùng biển miền Trung vốn nhiều sóng gió, khó khăn…

Rong nho biển (Caulerpa lentillifera) còn được gọi là trứng cá xanh (green caviar) hay nho biển (sea grapes). Loại này có hình dáng giống trứng cá nhưng có màu xanh và mọc thành chùm trong nước biển như chùm nho. Rong nho có vị mằn mặn lạ miệng, đặc trưng hương biển, lại giàu vitamin A, E và khoáng chất… và là một loại dược liệu quý cho sức khỏe và sắc đẹp. Người Nhật, Philippines rất “mê” rong nho biển trong các bữa ăn.

Điều đáng nói, loài rong này cũng kén nơi phát triển. Ở Nhật Bản - quê hương của giống rong nho biển cũng chỉ có đảo Okinawa là phát triển tốt - nơi có điều kiện thời tiết nóng ấm. Ấy thế nhưng, thật lạ khi du nhập vào Việt Nam, giống rong nho này lại hợp với thổ nhưỡng và thời tiết ấm áp của vùng biển miền Trung như Khánh Hòa, Bình Thuận... Người nông dân nơi đây bỗng được “đãi” thêm một giống nông sản có giá trị kinh tế cao, ngoài cây thanh long họ nhà xương rồng truyền thống.

Anh Nguyễn Văn Hiệp trồng rong nho tại vùng biển Hàm Thuận Nam (Bình Thuận) thật thà khoe kinh nghiệm: Rong nho rất dễ sống, chúng được trồng trong những hồ chứa nước biển sạch có sục khí oxy liên tục. Rong “ăn” dinh dưỡng từ cá biển nấu hòa tan trong nguồn nước. Chỉ cần một lần gây giống, nuôi chừng 25-30 ngày là có thể thu hoạch. Có thể nói, nuôi trồng rong nho biển chỉ cần tốn một lần vốn rồi thu lời nhiều lần. Vấn đề quan trọng là người trồng phải duy trì giống thật tốt thì nó sẽ “đãi” mình dài dài…

Nuôi trồng rong nho dễ là như vậy đó nhưng cũng có những điều cấm kỵ. Cụ thể, rong nho chỉ có thể sống trong nước có nhiệt độ từ 22-28°C. Việc thu hoạch rong nho cần đảm bảo hạt rong tròn không bị giập bể, nếu không vi khuẩn phát triển nhanh làm hư hỏng rong rất nhanh. Vào thời điểm tháng 2-3, nước biển lạnh nên rong nho chậm lớn, có khi bị chết. Ông Trần Nam Sơn, Giám đốc Công ty TNHH Minh Sơn, chuyên trồng và cung cấp rong nho biển tại Phan Thiết, khuyến cáo: Với thị trường khó tính như Nhật Bản, rong nho nuôi trồng trong môi trường nước không hợp vệ sinh thì giá trị rất thấp.

Rong nho đến “tuổi trưởng thành” phải có độ dài của chùm nho từ 5cm trở lên, có màu xanh nõn và giòn tươi. Người nông dân thu hoạch rong nho hoàn toàn bằng tay, cắt tỉa phần chùm nho ra khỏi thân. Rong nho sau thu hoạch phải được rửa bằng nước biển ra vô liên tục để những phần giập, héo trôi theo nước. Rong đã được cắt khỏi thân nhưng vẫn phải sục khí trong suốt 24 giờ và có ánh sáng tự nhiên rọi vào nhằm làm lành vết cắt, sau đó vớt lên để ráo nước và cho vào hộp.

Đó là công nghệ chế biến thô của nông dân, nhưng nếu chỉ dừng ở đây thì rong nho sẽ không giữ được lâu và mất giá. Do đó, để tăng giá trị loại nông sản này, những doanh nghiệp lớn đã tìm tòi, nghiên cứu và ứng dụng nhiều “bí quyết” riêng để bảo quản và chế biến rong nho. Cụ thể, sau công đoạn thu hoạch và làm sạch sơ, rong nho được cho vào quay ly tâm. Phương thức làm sạch này sẽ làm giảm 15%-20% trọng lượng rong, nhưng ngược lại, rong sẽ giữ được lâu. Kế đến, toàn bộ rong nho được đựng trong những hộp nhựa PE trong suốt để lấy ánh sáng mặt trời, nhằm giữ độ tươi lâu mà không cần để tủ lạnh.

Kỹ sư thủy sản Trần Nam Sơn cho biết: Với người nuôi trồng rong nho, công đoạn hậu thu hoạch cực kỳ quan trọng, được hay mất giá, thành hay bại mỗi mùa rong đều từ khâu này mà ra. Rong nho được xử lý đúng kỹ thuật có thể giữ được 2-3 tuần và giá bán lên đến 200.000 đồng/kg, cao gần gấp đôi so cách xử lý đơn giản.

Với mức giá cao như vậy, rong nho lại dễ nuôi trồng, ít tốn kém… có thể sẽ là bài toán kinh tế hiệu quả cho người nông dân. Những công ty lớn chuyên sản xuất rong nho biển tại Bình Thuận như Công ty Minh Sơn, Công ty Du lịch Vườn Đá, Công ty Hải Nam… dự báo rong nho sẽ trở thành món ăn dinh dưỡng phổ biến tại những vùng không trồng được rau xanh. Do đó, các công ty này đang có kế hoạch đầu tư mở rộng quy mô sản xuất.

Tuy nhiên, đó chỉ là sự đầu tư đơn lẻ, tự phát của từng doanh nghiệp. Hiện nay, các nhà trồng rong nho xuất khẩu sang Nhật có giá từ 8-10 USD/kg rong nho. Thực tế ở Nhật, rong nho thành phẩm được bán với giá hơn 100 USD/kg. Sự chênh lệch này cho thấy, thị trường rong nho biển sẽ không còn bỏ ngỏ nếu được đầu tư đúng mức, công nghiệp hóa công nghệ sau thu hoạch và có chiến lược hợp tác xây dựng thương hiệu, tiếp thị quảng bá tốt đối với các thị trường xuất khẩu. Nếu có chiến lược nghiên cứu và phát triển đúng hướng, trái nho biển có thể sẽ trở thành thế mạnh cho vùng biển miền Nam Trung bộ trong tương lai gần.

Vùng biển luôn đem đến cho chúng ta những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô tận do đó chúng ta luôn phải biết cách đấu tranh chống các hiện tượng sai trái, tiêu cực, buôn lậu, phá hoại môi trường sinh thái biển.

Chúng ta đã có một hệ thống cơ sở pháp lý làm nền tảng cho quản lý và phát triển vùng biển, đã tham gia các công ước quốc tế. Đã có các tuyên bố về chủ quyền trên biển, các chiến lược và kế hoạch quốc gia, Luật Bảo vệ môi trường và nhiều văn bản dưới luật. Tuy nhiên, cần có sự phân cấp, định rõ trách nhiệm về quản lý tài nguyên - môi trường và kinh tế biển, ứng cứu sự cố môi trường.

Chúng ta cần củng cố và cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý và bảo vệ theo các vấn đề như các nhân tố gây tác động từ trên lưu vực, xuyên biên giới - lãnh thổ; chất lượng môi trường; nơi sinh cư và các hệ sinh thái; đất ngập nước; phòng chống thiên tai và ứng cứu các sự cố môi trường, an ninh và tìm kiếm cứu nạn trên biển... Tiếp tục xây dựng, bổ sung và hoàn chỉnh các văn bản pháp quy liên quan đến phát triển bền vững vùng biển và dải ven bờ biển. Xây dựng chiến lược và các chương trình, kế hoạch hành động, các dự án ưu tiên để kiểm soát ô nhiễm, ngăn ngừa suy thoái, phát triển tài nguyên, cảnh báo thiên tai và ngăn ngừa sự cố môi trường trên biển. Phát huy thế mạnh của nền kinh tế thị trường đối với khai thác tiềm năng và bảo vệ môi trường vùng biển. ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế biển. Ngoài việc tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, Nhà nước cần giữ vai trò điều hành và quản lý một số lĩnh vực kinh tế chủ chốt, an ninh - quốc phòng và chủ quyền quốc gia trên biển.

Tăng cường xây dựng tiềm lực cho các cơ quan nghiên cứu, quản lý tài nguyên - môi trường biển. Từng bước khắc phục tình trạng lạc hậu, thiếu đồng bộ về phương pháp, thiết bị khảo sát và phân tích. Chú trọng đào tạo cán bộ khoa học, chuyên gia và lao động chuyên nghiệp biển từ các trường đại học, dạy nghề và thông qua các dự án phát triển. Xây dựng một hệ thống các cơ quan chuyên trách điều tra nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ về biển đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế biển và đảm bảo an ninh - quốc phòng, đảm bảo bình đẳng trong hợp tác quốc tế song phương và đa phương trên vùng biển Việt Nam và trên Biển Đông. Phấn đấu xây dựng nền tảng cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ biển (đội tàu nghiên cứu, các trạm quan trắc môi trường và cảnh báo thiên tai, các phòng thí nghiệm trọng điểm và các cơ sở thực nghiệm). Tăng tỷ lệ ngân sách cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đặc biệt cho phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, đánh giá và phát hiện mới tài nguyên biển.

Đẩy mạnh ứng dụng các giải pháp khoa học và công nghệ tiên tiến trong khai thác tiềm năng và bảo vệ tài nguyên - môi trường biển: Xây dựng công trình trên biển, dự báo, thăm dò khoáng sản và nguồn lợi nghề cá, ứng dụng công nghệ vệ tinh màu nước dự báo ngư trường, nuôi trồng thuỷ sản hiệu suất cao không gây ô nhiễm môi trường, giải quyết vấn đề nước ngọt cho vùng ven biển và các đảo xa bờ, phát triển các nguồn năng lượng sạch có nguồn gốc từ biển (gió, sóng, thuỷ triều, dòng chảy...), tách chiết các hợp chất thiên nhiên có giá trị cao từ nguồn vật liệu biển và chế biến các sản phẩm biển. Tăng cường các hoạt động dịch vụ và trung chuyển trên biển để hỗ trợ phát triển kinh tế đảo và xa bờ; phát triển mạnh cảng - hàng hải, du lịch sinh thái và các dịch vụ đi kèm.

Tăng cường an ninh - quốc phòng, chống nạn cướp biển và khai thác tài nguyên trái phép là một giải pháp đảm bảo phát triển bền vững, giữ vững chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển. Tăng cường kiểm tra nhằm đảm bảo an toàn môi trường và an ninh tài nguyên, giám sát và xử phạt các vi phạm trên biển. Phát hiện và kịp thời xử lý các vụ vi phạm như vận chuyển và đổ thải trái phép các chất gây ô nhiễm, sử dụng các hình thức khai thác huỷ hoại tài nguyên, vi phạm trong các vùng bảo vệ nghiêm ngặt. Gắn kết phát triển kinh tế với an ninh - quốc phòng và bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển, phối hợp tốt các tổ chức kinh tế và các cơ quan quản lý tài nguyên - môi trường với các tổ chức tìm kiếm cứu nạn trên biển, cảnh sát biển, hải quân và bộ đội biên phòng.

Thực hiện đánh giá tác động môi trường và ưu tiên triển khai các dự án quản lý, bảo vệ tài nguyên - môi trường biển như xử lý các chất thải, phục hồi nơi sinh cư của các loài quý hiếm, đặc hữu và các hệ sinh thái đặc thù, ứng cứu các sự cố môi trường, đặc biệt là tràn dầu trên biển. Phát triển các mô hình quản lý tổng hợp biển và dải ven bờ, kết hợp với quản lý lưu vực thượng nguồn. Phát triển các khu bảo tồn biển như là một quốc sách phát triển bền vững, vì ngoài việc duy trì các giá trị về tự nhiên, đa dạng sinh học và khoa học, nó còn mang lại những lợi ích kinh tế to lớn cho du lịch sinh thái và phát triển nghề cá. Quan tâm phát triển các dạng bảo tồn thiên nhiên khác như di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển và khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia.

Giáo dục, tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm và ý thức cộng đồng trong công tác bảo vệ tài nguyên - môi trường, hướng tới phát triển bền vững vùng biển. Xây dựng ý thức mới “bảo vệ tài nguyên - môi trường biển là trách nhiệm, là hành động yêu nước của mỗi người”.  Ngoài ra,  về phía nhà nước và xã hội cần hỗ trợ và quan tâm xoá đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư trên đảo và ven biển để họ yên tâm phát triển cuộc sống, góp phần tích cực xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo nuớc nhà..

Tăng cường hợp tác quốc tế trong điều kiện toàn cầu hoá để hội nhập và thực thi các công ước quốc tế liên quan đến biển. Thúc đẩy nghiên cứu và đàm phán nhằm sớm hoàn thiện việc xác lập biên giới và chủ quyền hợp pháp trên biển. Phối hợp giám sát nguồn chất thải xuyên biên giới và ứng cứu các sự cố môi trường tại các vùng giáp ranh; tham khảo kinh nghiệm, tranh thủ sự hỗ trợ, khuyến khích hòa nhập các chương trình quốc tế về tài nguyên - môi trường biển. Mở rộng các hình thức hợp tác quốc tế về thông tin tư liệu, đào tạo, hội thảo, tham quan trao đổi, tham gia các chương trình, dự án khu vực hoặc toàn cầu. Tham gia các tổ chức, các hoạt động trong các mạng lưới quốc tế về biển, tạo điều kiện để giao lưu, nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và cập nhập thông tin khoa học và công nghệ về biển. ưu tiên các hướng nghiên cứu khoa học và công nghệ cao để tiếp cận trình độ khu vực về một số mặt có liên quan đến lợi ích bình đẳng khai thác các vùng nước giáp kề, các vùng chồng lấn hoặc tranh chấp./.

Các từ khóa theo tin:

Huỳnh Nguyễn Đăng Huy

In trang | Gửi góp ý


Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Việt Nam đang phải đối mặt với “đại dịch” viêm gan virus
· Thế giới tuần qua: Rúng động vì các vụ tai nạn máy bay liên tiếp
· Tiếp tục triển khai các chính sách đối với người có công
· Đồng chí Tô Huy Rứa thăm và tặng quà Trung tâm Điều dưỡng thương binh Kim Bảng (Hà Nam)
· 7 tháng đầu năm 2014: Sản lượng khai thác thủy sản tăng 5,2%
· Quân đội Syria tái chiếm mỏ khí đốt chiến lược al-Shaer
· Xác minh thông tin "Trứng gà bóp không vỡ, đốt cháy khét xuất hiện ở Hà Nội"
· Tập trung nâng cao chất lượng tham mưu
· Kéo dài lệnh ngừng bắn nhân đạo tại Gaza thêm 24 giờ
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet