Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 3 tháng 9 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  bandoc.dcsvn@gmail.com
thuky.dcsvn@gmail.com
Giáo dục ở Việt Nam: Thành tựu và thách thức
09:31 | 24/04/2012

Ảnh minh hoạ (Ảnh: Đ.H)

(ĐCSVN) - Theo Báo cáo “Nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi người” của Ngân hàng Thế giới, trong những năm qua, giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.

Những thành tựu

Báo cáo này chỉ ra rằng, tuy thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ bằng 1/7 của các nước khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, bằng 1/4 mức thu nhập trung bình của các nước có mức thu nhập trung bình, nhưng tỷ lệ người biết chữ ngang bằng với hai nhóm nước này. Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc liên quan tới trình độ học vấn kể từ đầu những năm 1990. Những tiến bộ này chủ yếu diễn ra ở cấp tiểu học và trung học mặc dù khả năng theo học đại học cũng đang dần tăng lên. Tỷ lệ học sinh nhập học bậc tiểu học hiện nay đã gần đạt mức phổ cập. Tỷ lệ nhập học năm học 2006 bậc tiểu học, trung học và đại học lần lượt đạt khoảng 100%, 76% và 16%. Những tỷ lệ này đã tạo cho Việt Nam có một chỗ đứng rất thuận lợi so với những nước có mức thu nhập bình quân đầu người tương tự. Do chất lượng giáo dục và khả năng đi học ngày càng tăng cao, tỷ lệ nhập học quá tuổi cũng giảm đi và dần dần chuyển sang các lớp cao hơn trước khi giảm hẳn đối với mọi khối lớp và bậc học. Hiệu quả giáo dục nhìn chung khá ấn tượng. Điều đó cho thấy cho tới nay không có sự đánh đổi giữa số lượng và chất lượng. Chất lượng giáo dục cao hơn đã khuyến khích học sinh ở lại trường và hoàn thành bậc học hơn.

Thách thức cần sớm được giải quyết

Tuy giáo dục của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng Báo cáo này cũng chỉ ra rằng, giáo dục Việt Nam vẫn còn những tồn tại, cần sớm được giải quyết. Theo Báo cáo này, vấn đề lớn đầu tiên Việt Nam đang gặp phải là trình độ học vấn, tỷ lệ đi học và hoàn thành bậc học không đồng đều, đặc biệt giữa các nhóm thu nhập và các nhóm dân tộc. Mặc dù trình độ học vấn của mọi nhóm thu nhập từ năm 1992 đến 2008 đã tăng lên, nhưng nhóm có thu nhập thấp có tỷ lệ đi học thấp hơn tỷ lệ trung bình của cả nước đối với cả bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông: 84% đối với giáo dục trung học cơ sở và 48% đối với giáo dục trung học phổ thông (năm 2006). Điều này có nghĩa đối với bậc trung học phổ thông, nhóm có thu nhập cao có tỷ lệ đi học cao hơn 1,8 lần so với nhóm có thu nhập thấp. Tỷ lệ trẻ em nghèo hoàn thành bậc học tiểu học là 73% trong khi đó tỷ lệ này là 95% đối với nhóm có thu nhập cao, điều này cho thấy nhu cầu cần phải giải quyết vấn đề này. Mặt khác, hiện đang tồn tại khoảng cách giữa một bên là nhóm người Kinh, người Hoa và một bên là các dân tộc thiểu số khác ở mọi bậc học và khoảng cách này lớn hơn ở các bậc học lớn hơn. Năm 2008, tỷ lệ đi học của nhóm dân tộc thiểu số đạt 89% đối với bậc tiểu học, 85% bậc trung học cơ sở và 52% bậc trung học phổ thông. Tỷ lệ này ngày càng giảm đối với bậc trung học phổ thông, tỷ lệ đi học 64% năm 2004 đã giảm xuống còn 52% năm 2008. Mặc dù tỷ lệ hoàn thành bậc tiểu học của các nhóm dân tộc thiểu số đã tăng từ 14% năm 1992 lên 78% năm 2008 nhưng các nhóm dân tộc thiểu số này vẫn có tỷ lệ hoàn thành bậc tiểu học thấp nhất không chỉ so với nhóm người Kinh và người Hoa (đạt 92% năm 2008) mà còn so với các nhóm được so sánh khác dựa trên sự phân loại về khu vực thành thị/nông thôn, thu nhập và giới.

Báo cáo này cũng chỉ ra rằng, mặc dù mức độ chênh lệch không còn lớn như trước nhưng tỷ lệ đi học trung bình trên cả nước vẫn khá chênh lệch giữa khu vực nông thôn và thành thị, tỷ lệ đi học bậc trung học phổ thông ở nông thôn là 65% và ở thành thị là 79%. Ở khu vực nông thôn, trình độ học vấn tăng lên chủ yếu ở bậc tiểu học và trung học, còn ở khu vực thành thị trình độ học vấn tăng lên ở bậc đào tạo nghề và đại học. Tỷ lệ hoàn thành bậc học ở khu vực nông thôn bằng 2/3 tỷ lệ hoàn thành bậc học ở khu vực thành thị. Sự khác biệt về trình độ học vấn và tỷ lệ hoàn thành bậc học như vậy dần dần dẫn tới sự khác biệt ngày càng lớn mặc dù dân số khu vực thành thị chỉ chiếm 20% dân số cả nước và sự khác biệt này sẽ tái diễn qua nhiều thế hệ.

Vấn đề lớn thứ hai của hệ thống giáo dục Việt Nam là kết quả học tập chưa đạt yêu cầu. Vấn đề chất lượng cần phải được xem xét. Chất lượng không chỉ tác động tới số lượng mà còn hạn chế kết quả đạt được liên quan tới tỷ lệ đi học và hoàn thành bậc học khi chất lượng trường còn thấp. Một số học sinh đã hoàn thành bậc tiểu học nhưng học rất ít, vì vậy họ thực sự vẫn chưa hoàn thành bậc tiểu học. Ở Việt Nam, số năm đi học là một yếu tố gây tác động lớn tới kết quả học tập của học sinh, điều đó khẳng định trẻ em học được càng nhiều nếu các em càng học lên các lớp trên, song chất lượng vẫn còn là một vấn đề của toàn bộ dân số nói chung và của một số nhóm nói riêng. Mặt khác, hiện đang tồn tại khoảng cách lớn về điểm số giữa học sinh khu vực thành thị và nông thôn/vùng sâu vùng xa, giữa học sinh giàu và nghèo và giữa học sinh dân tộc thiểu số và học sinh dân tộc chiếm đa số. Chất lượng giáo dục thấp thường có vai trò nhất định khi lý giải về tỷ lệ bỏ học vẫn tồn tại ở bậc tiểu học và trung học đối với nhóm dân số có hoàn cảnh khó khăn.

Nhìn chung, một số chính sách giáo dục được áp dụng ở Việt Nam trong những thập kỷ vừa qua đã thu được nhiều kết quả. Nhưng, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề liên quan tới nâng cao chất lượng cần phải giải quyết và yêu cầu cấp bách cần xóa bỏ khoảng cách về trình độ học vấn và kết quả học tập. Sự tồn tại của những thách thức này chứng tỏ nhiều yếu tố vẫn còn hiện diện, một số yếu tố có thể không dễ bị các chính sách giáo dục tác động trong khi các yếu tố khác vẫn chưa được giải quyết hoặc chưa được giải quyết triệt để thông qua các chính sách giáo dục.

Những yếu tố hạn chế hiệu quả giáo dục

Phân tích về nguyên nhân của những tồn tại trên, Báo cáo này đã chỉ ra một số yếu tố hạn chế hiệu quả giáo dục, đó là: thứ nhất, về học phí: Ở các cấp giáo dục cao hơn, những khó khăn trước mắt và hay thay đổi xuất hiện nhiều hơn. Tính trung bình, học phí chiếm khoảng 20% chi tiêu cho giáo dục. Học phí là yếu tố hạn chế kết quả học tập của các nhóm nghèo và gặp hoàn cảnh khó khăn. Các hộ gia đình trong nhóm thu nhập cao hiện có mức chi tiêu cho học phí cao gấp bảy lần các hộ nghèo (chưa kể đến các hộ nghèo có quy mô lớn hơn); và các gia đình người Kinh và Hoa có mức chi tiêu cho học phí cao gấp năm lần so với các nhóm dân tộc thiểu số. Những xu hướng như vậy thể hiện rõ khả năng theo học các bậc cao hơn trong hệ thống giáo dục hạn chế hơn. Học phí ở Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi từ 149.000 đồng năm 1998 lên 307.000 đồng năm 2006. Mức tăng học phí này là đối trọng của chính sách miễn giảm học phí cho học sinh nghèo nhưng lại có ảnh hưởng hạn chế một phần là do các vấn đề hướng tới và một phần là do quy mô của các chi phí khác. Thứ hai, các chi phí khác: Mặc dù học phí và các khoản đóng góp cho hội cha mẹ học sinh khá cao ở Việt Nam nhưng vẫn chưa thể hiện hết toàn bộ những khoản chi phí cho trẻ em đi học. Nhìn chung, toàn bộ các khoản chi thường là những khoản chi gián tiếp như mua đồng phục, đi lại, học thêm, nội trú (đối với học sinh nội trú) và ăn uống khi không ở nhà,... Nếu cộng tổng lại và nếu không có các biện pháp hiệu quả để nâng cao sự bình đẳng, những chi phí này sẽ khiến cho các gia đình có thu nhập thấp không muốn cho con em đến trường ở Việt Nam. Do đó, cùng với các khoản chi phí cá nhân và chi phí cơ hội có ảnh hưởng tới tỷ lệ đi học, tăng học phí bậc trung học có vai trò quan trọng có ảnh hưởng tiêu cực tới trình độ học vấn của các nhóm nghèo trong xã hội. Điều đó đòi hỏi cần nhanh chóng tập trung hỗ trợ giúp trẻ em tới trường thông qua các khoản học bổng hay các hình thức hỗ trợ tài chính và tương tự.

Những kiến nghị về chính sách

Để sớm giải quyết được những tồn tại trên, Báo cáo này cũng đề xuất một số kiến nghị về chính sách để giáo dục Việt Nam có bước phát triển mới. Theo Báo cáo này, có ba điểm quan trọng cần quan tâm liên quan tới những thách thức hiện nay của giáo dục tiểu học và trung học ở Việt Nam. Thứ nhất, sự chênh lệch là một vấn đề có nhiều nguyên nhân khác nhau và không thể được giải quyết nếu chỉ giải quyết một nguyên nhân (như tỷ lệ hoàn thành bậc tiểu học chưa phổ cập) hay một yếu tố (như chi phí đi học hay chất lượng trường học). Thứ hai, khoảng cách lớn trong học tập hiện đang tồn tại trong hệ thống trường tiểu học của Việt Nam có ảnh hưởng tới vấn đề số lượng và chất lượng trong giáo dục. Do đó, thách thức đặt ra không chỉ là vấn đề tiếp cận cơ hội học tập mà còn là đem lại sự bình đẳng về cơ hội học tập ngay ở những năm đầu tiên đi học để đảm bảo rằng người nghèo trong xã hội được chuẩn bị sẵn sàng để đối mặt với những thách thức ở các bậc học cao hơn. Chuẩn bị sẵn sàng hơn không chỉ khiến cho việc học tập có ý nghĩa hơn mà còn giúp trẻ em theo học và hoàn thành bậc học. Thứ ba, có nhiều “điểm xuất phát” (tiềm năng) liên quan tới chính sách để giải quyết những vấn đề này.

Báo cáo này đề xuất, Việt Nam cần tăng cường hỗ trợ mức chất lượng tối thiểu, cụ thể đối với những trường có trẻ em thuộc nhóm dễ bị tác động. Kết quả hỗ trợ mức chất lượng tối thiểu thu được rõ ràng có ý nghĩa tích cực và củng cố thêm những nỗ lực đang diễn ra ở Việt Nam nhằm đầu tư ngân sách nhà nước vào cải thiện đầu vào chất lượng tối thiểu ở các trường tiểu học. Thay vì đóng cửa các điểm trường phụ Việt Nam cần tiếp tục nâng cao chất lượng các điểm trường phụ bằng cách bảo đảm ít nhất các trường này đạt hỗ trợ mức chất lượng tối thiểu. Mặc dù hỗ trợ mức chất lượng tối thiểu ở các quận/huyện và trường nghèo tăng nhanh hơn nhưng vẫn cần nỗ lực hơn nữa để thu hẹp khoảng cách về nguồn lực, đặc biệt là ở các điểm trường chính và điểm trường phụ vì ở đây tồn tại sự khác biệt rất lớn về nguồn lực.

Hỗ trợ áp dụng học cả ngày ở những trường có trẻ em thuộc nhóm dễ bị tác động. Thực tiễn hiện nay đều cho thấy nên mở rộng học cả ngày ở cả bậc tiểu học và trung học. Tuy nhiên, việc mở rộng như vậy cần đảm bảo rằng những nhóm trẻ em dễ bị tác động nhất tham gia học cả ngày sẽ là cơ sở vững chắc để đầu tư ngân sách công vào chi trả tiền lương và chi phí đầu tư cho quá trình chuyển đổi sang học cả ngày ở khu vực gặp hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, việc mở rộng như vậy cần phải tính tới chất lượng trường học trong đó phải liên tục ưu tiên đầu vào chất lượng tối thiểu và yếu tố sư phạm. Việc tập trung vào công tác chuyển sang học cả ngày (ít nhất 30 tiết một tuần bậc tiểu học) tính tới năm 2020 trong Chiến lược giáo dục 2008-2020 của chính phủ là một định hướng đúng đắn, chương trình học cả ngày mới dành cho bậc tiểu học cũng vậy, và điều này sẽ giúp cung cấp các yếu tố đầu vào hoàn chỉnh – gồm cơ sở vật chất trường học được cải thiện, đào tạo hiệu trưởng và giáo viên và các khoản trợ cấp cho học sinh và các trường mục tiêu – cho một loạt các mẫu trường học nửa ngày hiện chỉ học chưa đầy 30 tiết một tuần. Việt Nam cũng nên ban hành chính sách tăng thêm thời gian học kết hợp với việc sử dụng giáo viên một cách hợp lý, phần lớn các yếu tố này cần được áp dụng ở khu vực thành thị hoặc xung quanh khu vực thành thị nhằm hỗ trợ một cuộc cải cách có hiệu quả chi phí.

Áp dụng trợ cấp tiền mặt có điều kiện cho học sinh nghèo và có hoàn cảnh khó khăn. Tác động thực sự của hình thức trợ cấp tiền mặt chịu ảnh hưởng khá lớn của ba yếu tố: cơ chế chọn mục tiêu, công tác xây dựng và thực hiện, và chất lượng trường học. Chương trình học bổng chỉ đem lại hiệu quả khi chúng có khả năng hướng tới những học sinh có kết quả học tập phụ thuộc nhiều nhất vào việc có nhận được học bổng hay không. Kết quả học tập cũng sẽ cao hơn khi học bổng được cấp với điều kiện dựa vào kết quả. Chất lượng trường học vẫn là một vấn đề cần quan tâm: việc cấp học bổng để giữ chân học sinh ở lại trường có hoạt động học tập còn hạn chế đã dẫn tới một số tác động đối với học sinh, gia đình và rộng hơn là xã hội.

Tăng cường áp dụng chuẩn giáo viên. Việt Nam cần tiếp tục tăng cường chính sách phát triển giáo viên nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng giảng dạy thực sự hơn là chỉ chú ý tới bằng cấp chính qui. Chuẩn giáo viên không nên chỉ đóng vai trò là cơ sở để tổ chức đào tạo giáo viên và đánh giá giáo viên, mà còn là cơ sở để trả lương cho giáo viên. Việc tiếp tục trả lương cho giáo viên chỉ dựa vào trình độ học vấn và kinh nghiệm của giáo viên sẽ có thể kìm hãm sự tiến bộ của chất lượng giảng dạy. Trả lương dựa vào hiệu quả công việc là một đánh giá mang tính khách quan và thường liên quan tới việc hỗ trợ tài chính cho trường và giáo viên dựa vào hiệu quả học tập của học sinh như tỷ lệ đi học hay kết quả học tập. Lợi ích của hình thức trả lương dựa vào hiệu quả công việc là giúp tăng năng suất và hiệu quả.

Xác định đối tượng hưởng miễn giảm học phí hiệu quả hơn. Tác động của miễn giảm học phí ở bậc trung học cơ sở thường lớn hơn bậc trung học phổ thông. Điều đó cho thấy học phí chiếm một tỷ lệ lớn hơn trong tổng chi phí học tập ở bậc này. Điều đó cũng cho thấy miễn giảm học phí có thể giải quyết vấn đề tỷ lệ nhập học thấp do những khó khăn hay thay đổi ở bậc trung học phổ thông. Tỷ lệ miễn giảm học phí đã tăng đáng kể từ cuối những năm 1990 và dường như được phân phối lại khi miễn giảm học phí thường tập trung ở những nhóm dân số dễ chịu tác động như nhóm dân số khu vực nông thôn, có thu nhập thấp và dân tộc thiểu số. Việc áp dụng miễn giảm học phí đúng đối tượng hơn ở bậc trung học cơ sở có thể giúp nâng cao tỷ lệ nhập học đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn, đồng thời giúp tiết kiệm các nguồn lực khan hiếm.

Nâng cao chất lượng quản lý trường học và sư phạm. Các trường học ở Việt Nam có thể được hưởng lợi từ việc nâng cao năng lực quản lý của hiệu trưởng và tăng tính tự chủ và tự chịu tránh nhiệm. Để nâng cao năng lực quản lý của hiệu trưởng, cần phải tổ chức đào tạo đầy đủ và xây dựng chuẩn. Đó là đào tạo về công tác quản lý, đặc biệt là đối với hình thức học cả ngày, và sử dụng học phí và các nguồn tài chính khác trong giáo dục phổ thông. Đồng thời, chuẩn hiệu trưởng hiện đang được xây dựng có thể giúp hình thành những năng lực mà các hiệu trưởng (và phó hiệu trưởng) ở Việt Nam cần có và giúp xây dựng những chương trình đào tạo mới nhằm hỗ trợ họ. Năng lực giám sát và làm việc với giáo viên có thể là một năng lực rất quan trọng. Những năng lực khác là năng lực chỉ đạo công tác lập kế hoạch phát triển trường và đảm bảo rằng cha mẹ học sinh và cộng đồng đều tham gia tích cực vào các hoạt động của trường.

Hỗ trợ áp dụng phương pháp dạy học kiểu mới. Nhằm phát huy hết tác dụng của việc chuyển sang học cả ngày, Việt Nam cần tận dụng hết thời gian làm việc của giáo viên bằng cách tổ chức nhiều hoạt động sư phạm hiệu quả hơn. Trong đó, thời gian của giáo viên càng nhiều sẽ dẫn tới hoạt động dạy học mang càng tính thực tiễn và tương tác hơn, giáo viên tiếp xúc trao đổi với cha mẹ học sinh nhiều hơn, và hiệu trưởng và giáo viên cũng tương tác với nhau nhiều hơn – đây là những gì có ảnh hưởng tích cực tới kết quả học tập được nghiên cứu này phát hiện ra. Do đó, các nhà lập sách cần tìm được những chỉ báo hiệu quả để có thể sử dụng kết hợp với các biện pháp nền tảng cơ bản. Một chỉ báo quan trọng là tần suất học sinh nhận được phản hồi từ giáo viên. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo viên tích cực vì những giáo viên như vậy sẽ giúp học sinh tham gia vào quá trình học tập.

Cũng cần quan tâm tới các hoạt động dạy học có tính đến yếu tố văn hóa đối với học sinh dân tộc thiểu số; có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ làm ngôn ngữ giảng dạy và có giáo viên và giáo viên trợ giảng là người dân tộc thiểu số. Một phương pháp tiếp cận khá hiệu quả và đã được áp dụng gần đây ở ba tỉnh ở Việt Nam là giáo dục song ngữ có dùng tiếng mẹ đẻ ở cấp tiểu học. Theo phương pháp này, tiếng mẹ đẻ là tiếng dân tộc được sử dụng làm ngôn ngữ dạy học chính ở bậc mầm non và lớp 1, và tiếng Việt được sử dụng như ngôn ngữ thứ hai, rồi sau đó dần dần trở thành ngôn ngữ chính được sử dụng trong dạy học từ lớp 2 trở đi (trong khi đó vẫn duy trì tiếng mẹ đẻ). Phương pháp này nhằm giúp các nhóm dân tộc thiểu số có thể đọc và viết trước tiên bằng ngôn ngữ mẹ đẻ và sau đó chuyển sang kỹ năng học tiếng Việt…

Các từ khóa theo tin:

Đ.H

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Chuyện về những đứa trẻ vượt 2.700 m dốc núi đi học từ mờ sáng (30/08/2014)
Chấn chỉnh công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cộng tác viên thanh tra giáo dục (28/08/2014)
Tham vấn chuyên gia về Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông (28/08/2014)
Đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học (27/08/2014)
Thủ tướng chủ trì phiên họp Ủy ban Đổi mới Giáo dục và Đào tạo (27/08/2014)
Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2014 diễn ra từ ngày 29/9 đến 5/10 (26/08/2014)
Khởi động năm học mới cho trẻ mầm non ở Hà Nội (25/08/2014)
Hội diễn văn nghệ học sinh khuyết tật toàn quốc lần thứ 2 (25/08/2014)
Phát hiện và sẽ xử lý nghiêm vụ 71 sinh viên Trường Đại học Quy Nhơn được nâng điểm (25/08/2014)
132 thủ khoa xuất sắc được ghi danh Sổ vàng tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám (23/08/2014)
 Trang 1 / 113 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Tuyển sinh du học tại Nhật Bản năm 2013 (23/04/2012)
Đại hội Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập nhiệm kỳ II (2012-2017) (20/04/2012)
Việt Nam cần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (20/04/2012)
Từ ngày 25/4 bắt đầu thu hồ sơ đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT 2012 (19/04/2012)
Sôi nổi Hội thi sáng tạo với Bản đồ tư duy (18/04/2012)
Tạo dựng uy tín và thương hiệu cho các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập (18/04/2012)
Chính thức công bố lịch thi tốt nghiệp THPT 2012 (16/04/2012)
Phối hợp tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2012 (16/04/2012)
Tăng cường phối hợp bảo đảm chất lượng giáo dục trường học (13/04/2012)
Sẽ đào tạo hệ học sinh dân tộc tại trường THPT Chu Văn An-Hà Nội (13/04/2012)
 Trang 1 / 28 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· 114 người chết vì tai nạn giao thông trong dịp nghỉ lễ 2/9
· Tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng tại Quốc lộ 5 làm 4 người thương vong
· Thủ tướng yêu cầu xử lý vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng tại Lào Cai
· Bộ trưởng Bộ Xây dựng kiểm tra nhà ở xã hội tại Khu đô thị Đặng Xá
· Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dâng hương tưởng niệm Bác Hồ
· Bồi thường 1 tỷ đồng cho các nạn nhân vụ tai nạn ở Lào Cai
· Hàn Quốc: Thặng dư thương mại bất ngờ sụt giảm
· CHDC Congo xác nhận 31 người tử vong do nhiễm virus Ebola
· Philippines: Kinh tế tăng trưởng mạnh do các ngành kinh tế then chốt đồng loạt khởi sắc
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : thuky.dcsvn@gmail.com
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet