Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 22 tháng 9 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Các đường phố Hà Nội theo vần T (tiếp theo)
08:48 | 17/03/2010

TÔN THẤT THIỆP

 

Phố: dài 110m, từ phố Trần Phú đến đường Điện Biên Phủ. Trên bản đồ (1983) còn thấy một đoạn dài nằm trong thành nội, nối từ phố Trần Phú rồi ngoặt sang phố Lý Nam Đế, cùng tên phố này, nay nằm trong thành. Đất mang cá, bảo vệ góc cửa đông nam thành cổ. Nay thuộc phường Điện Biên, quận Ba Đình.

 

Thời Pháp thuộc: phố Tướng Bađen (Rue Général de Badens). Sau Cách mạng: phố Lê Cảnh Tuân. Thời tạm chiếm: đổi tên này.

 

Ngõ: ở phía đông phố này.

 

Tôn Thất Thiệp (1870 -1888): còn gọi là Tiệp; con trai thứ hai Tôn Thất Thuyết, cùng cha theo phò vua Hàm Nghi chống Pháp ở Quảng Bình. Trong trận chiến đấu chống nội bộ làm phản bắt vua, ông hy sinh lúc mới 19 tuổi.

 

TÔN THẤT TÙNG

 

Phố: dài 610m; từ ngã ba Chùa Bộc - Phạm Ngọc Thạch đến đường Trường Chinh, qua trước cửa trường Đại học Y khoa.

 

Đất trại Khương Thượng, tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận cũ. Nay thuộc phường Khương Mai, quận Thanh Xuân và phường Kim Liên, quận Đống Đa.

 

Phố mới mở, lúc đầu dân tự đặt là phố Khương Thượng. Năm 1990 chính thức đặt tên phố là Tôn Thất Tùng.

 

Tôn Thất Tùng (1912 -1982): Anh hùng lao động, giáo sư - bác sĩ, nhà bác học Việt Nam, nổi tiếng thế giới về phẫu thuật gan. Người Huế - Thừa Thiên. 27 tuổi đã được Đại học Tổng hợp Paris tặng huy chương bạc về luận án tĩnh mạch gan. 1939 mổ thành công ca cắt gan đầu tiên ở Paris. Trong kháng chiến chống Pháp làm Thứ trưởng Bộ Y tế, xây dựng trường Đại học Y. Sau hoà bình, ông làm Chủ nhiệm khoa Ngoại trường Y, Giám đốc Bệnh viện Việt Đức, cống hiến nhiều công trình cho ngành y, đào tạo nhiều lớp bác sĩ; được bầu viện sĩ nhiều Viện Hàn lâm trên thế giới; giảng dạy nhiều trường đại học lớn của các nước. Huy chương Vàng Quốc tế Lannơlônggiơ của Viện Hàn lâm phẫu thuật Paris (1977), được giới y học toàn cầu đánh giá cao. Ông mất ngày 7-5-1982 tại Hà Nội, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996).

 

TÔNG ĐẢN


Nhà Hát Lớn Hà Nội nhìn từ phố Tông Đản  (Ảnh tư liệu)

 

Phố: dài 330m; từ phố Trần Nguyên Hãn đến phố Tràng Tiền, cắt ngang qua phố Lê Lai và Lê Phụng Hiểu. Cuối phố là Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Đất thôn Vọng Hà, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương cũ.

 

Nay thuộc các phường Lý Thái Tổ, Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm.

 

Thời Pháp thuộc nhập chung vào phố Hàng Vôi (Rue de la Chaux). Sau Cách mạng gọi là phố Gia Định. Thời tạm chiếm ngắt ra và đặt tên Tôn Đản, sau chỉnh lại cho đúng.

 

Tông Đản (thế kỷ XI): tướng đời Lý, tham gia đạo quân của Lý Thường Kiệt, người dân tộc Tày. Năm 1075, làm phó tướng chỉ huy cuộc tấn công căn cứ Ung Châu (nay là Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc), phá vỡ kế hoạch xâm lược nước ta của quân Tống. Năm 1077, khi quân Tống lại tiến vào xâm lấn, ông chỉ huy chặn giặc ở biên giới.

 

TỐNG DUY TÂN

 

Phố: dài 200m; từ phố Trần Phú đến đường Điện Biên Phủ, phố ẩm thực.

 

Vốn là con đường chạy bên mang cá cửa đông – nam thành cổ, thời Nguyễn. Nay thuộc phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm.

 

Thời Pháp thuộc là phố Bờluýtxô (Rue Brusseaux). Sau Cách mạng đổi là phố Bùi Bá Ký. Thời tạm chiếm gọi phố Kỳ Đồng. Từ 1964 đổi thành tên này.

 

Tống Duy Tân (1837 -1892): người làng Đông Biện, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá, đỗ tiến sĩ (1875), làm Đốc học rồi Chánh sứ Sơn phòng thời Nguyễn. Năm 1886, ông từ quan, cùng Cao Điền lập căn cứ chống Pháp ở vùng núi Hùng Lĩnh, hoạt động ở xứ Thanh Hoá. Năm 1892, bị Pháp bắt, nhốt trong cũi, ông vẫn làm thơ đánh địch, rồi rạch bụng tự sát, bảo toàn khí tiết tại chợ Thanh Hoá.

 

TRẠI CÁ

 

Ngõ: ở phố Trương Định (cạnh số nhà 118 rẽ vào), vốn là lối vào làng Hoàng Mai - nơi có trại nuôi cá giống từ sau hoà bình.

 

Nay thuộc phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng.

 

TRẠI GĂNG

 

Ngõ: ở phố Bạch Mai, trước có hai ngõ (cạnh số 237 rẽ vào và bên phải Nhà Văn hoá quận Hai Bà Trưng). Đất phường Hồng Mai, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Ngõ bên cạnh Nhà Văn hoá năm 1986 mở rộng và nối với đường mới mở, thành một đoạn của phố Thanh Nhàn; chỉ còn ngõ vào khu tập thể Trại Găng.

 

Nay thuộc phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng.

 

TRÀNG AN

 

Ngõ: ở phố Huế (cạnh số nhà 70 rẽ vào), đi thông sang phố Triệu Việt Vương (cạnh số 9).

 

Đất phường Phục Cổ, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Tràng An là tên ngôi chùa cổ ở trong ngõ. Nay thuộc phường Bùi Thị Xuân, quận Hai Bà Trưng.

 

Tên có từ lâu đời. Sau Cách mạng gọi là khu Nam Nghĩa. Thời tạm chiếm: lấy lại tên cũ.

 

TRÀNG DUỆ

 

Ngõ: ở phố Khâm Thiên (cạnh số nhà 232 rẽ vào), trước cửa có chùa Tràng Duệ nên thành tên.

 

Còn gọi: ngõ 232 Khâm Thiên.

 

TRÀNG THI

 

Phố: dài 860m; từ phố Bà Triệu đến phố Cửa Nam, cắt ngang qua các phố Quang Trung, ngã tư Phủ Doãn - Triệu Quốc Đạt, phố Quán Sứ.

 

Đất thôn Vũ Thạch; tổng Tả Nghiêm và các thôn Lưu Truyền, Anh Mỹ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

 

Nay thuộc hai phường Hàng Trống và Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm.

 

Thời Pháp thuộc là phố Tràng Thi (Rue du Camp des Lettres). Sau đổi là phố Boócnhi Đêboócđơ (rue Borgnis Desbordes). Sau Cách mạng lại gọi phố Tràng Thi.

 

Thời tạm chiếm: phố Mỹ Quốc (United States of America Street). Sau hoà bình 1954 lấy lại tên cũ. Giữa phố này là khu vực Thư viện Quốc gia, Cục Lưu trữ Trung ương, Nhà máy Điện cơ; bao quanh bởi các phố Tràng Thi - Quang Trung - Hai Bà Trưng - Triệu Quốc Đạt là trường thi Hương triều Nguyễn. Năm 1845, xây gạch bao quanh, chu vi 182 trượng (tương đương 564m) - cho nên có tên Trường Thi - Tràng Thi.

 

TRÀNG TIỀN

 

Phố: dài 710m; từ đường Trần Quang Khải đi vào, gãy khúc ở trước Nhà Hát Lớn, đến cuối phố Đinh Tiên Hoàng, bên hồ Gươm. Đầu phố là Bảo tàng Lịch sử (Bảo tàng Viễn Đông Bác Cổ cũ), nơi xưa kia là bến bãi sông Hồng, có cửa ô Tây Long, tiếp đến Nhà Hát Lớn, phố chạy qua Quảng Trường 19-8 ở cạnh phía bắc.

 

Đất các thôn Tây Long Đồn, tổng Tả Túc; thôn Cựu Lâu và khu Bảo Toàn cục, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ.

 

Nay thuộc phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm.

 

Thời Pháp thuộc:

 

- Đoạn đầu đến quảng trường Cách mạng tháng Tám: phố Nước Pháp (rue de France). Sau Cách mạng - phố Đồn Thuỷ.

 

- Đoạn sau gộp với phố Hàng Khay là phố Thợ Khảm (rue des lncrusteurs). Sau đổi là phố Pôn Be (rue Paul Bert).

 

Sau Cách mạng chia làm hai phố: Tràng Tiền và Hàng Khay. Thời tạm chiếm: gộp hai phố Đồn Thủy + Tràng Tiền thành phố Pháp Quốc (Rue de France). Sau hoà bình lấy lại tên phố Tràng Tiền.

 

Ngõ: cùng tên, từ phố Phan Chu Trinh sang phố Nguyễn Khắc Cần; song song với phố Tràng Tiền.

 

Thời Pháp thuộc vẫn gọi là ngõ Tràng Tiền (ruelle de la Sapèquerie).

 

Tràng Tiền (Trường Tiền): tức Tràng đúc tiền, có tên chữ là Bảo Toàn cục (hoặc Bảo Tuyền cục) nơi đúc và làm kho tiền của nhà Nguyễn ở Bắc Hà; lập năm 1813 đến 1887 thì bỏ. Khu vực Trường Tiền này bao quanh tương ứng với các phố, ngõ sau: ngõ Tràng Tiền - Phan Chu Trinh - Phạm Sư Mạnh - Nguyễn Khắc Cần, trên đất thôn Hậu Lâu. Như vậy là phố Tràng Tiền chỉ ở cạnh Tràng đúc tiền. Đây là con đường ra cửa ô Tây Long cũ.

 

TRẦN BÌNH

 

Phố: dài 500m; từ đường Hồ Tùng Mậu qua bệnh viện 19-8 của Bộ Công an đến khu chợ tạm. Nay thuộc phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy. Tên phố mới đặt tháng 1-2002. Lúc đầu dài 500m, tháng 6-2008 cho kéo dài thêm 400m đến ngã ba cổng thôn Phú Mỹ.

 

Trần Bình (1928 -1949): tên thật là Trần Văn Tích, quê ở Thái Bình, tham gia cách mạng từ năm 17 tuổi, chiến sĩ an ninh thuộc Đội hành động Công an quận VI, Hà Nội, người thực hiện bản án tử hình tên Tổng trấn Bắc Việt Trương Đình Tri ở phố Cổng Đục ngày 10-10-1947 trong Hà Nội tạm chiếm. Bị địch bắt, Trần Bình vẫn giữ vững khí tiết không khai báo và bị chúng kết án tử hình. Năm 1995, Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

TRẦN BÌNH TRỌNG

 

Phố: dài 590m; từ phố Trần Hưng Đạo đến phố Trần Nhân Tông, cạnh phía tây hồ Thiền Quang, cắt ngang qua các phố Trần Quốc Toản, Nguyễn Du.

 

Đất thôn Yên Lập, Liên Thuỷ, Thiền Quang, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ.

 

Nay thuộc phường Trần Hưng Đạo (quận Hoàn Kiếm) và phường Nguyễn Du (quận Hai Bà Trưng).

 

Chỗ chạc ba với phố Nguyễn Thượng Hiền có cụm di tích  gồm 3 chùa: Quang Hoa, Pháp Hoa, Thiền Quang nằm cạnh hồ, được xếp hạng năm 1989.

 

Thời Pháp thuộc gọi là phố Đơloócmơ (rue Delorme).

 

Trần Bình Trọng (1259 - 1285): người xã Bảo Thái, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam bây giờ; vốn họ Lê, làm tướng nhà Trần, có công lớn nên được ban họ vua. Năm 1285, ông chặn quân Mông - Nguyên ở sông Thiên Mạc, bị giặc bắt nhưng không chịu hang, ông đã mắng vào mặt chúng: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Thoát Hoan đã giết ông. Vua Trần truy phong ông là Bảo Nghĩa Vương.

 

TRẦN CAO VÂN

 

Phố: dài 280m; từ phố Lê Gia Đỉnh đến phố Yên Bái. Đoạn giáp phố Lê Gia Đỉnh bị chắn trước cổng Bệnh viện Bưu điện, có một ngách thông sang khu tập thể Nguyễn Công Trứ, đoạn này thành một bộ phận của chợ Hoà Bình, nối liền với chợ Nguyễn Công Trứ.

 

Đất thôn Sài Tân, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Nay thuộc phường phố Huế, quận Hai Bà Trưng.

 

Thời Pháp thuộc: đường 230 (voie 230). Sau đổi là phố Chùa Vua. Thời tạm chiếm: phố Trần Cao Vân.

 

Ngõ: cùng tên; nối phố này với phố Thịnh Yên, song song với ngõ Thịnh Yên.

 

Thời Pháp thuộc: đường 260 (voie 260). Sau Cách mạng: ngõ Tân Trào.

 

Trần Cao Vân (1866 -1916): người làng Tư Phú, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; ông có tinh thần yêu nước chống Pháp, năm 1898 tham gia khởi nghĩa Võ Trứ ở Phú Yên. 1908 bị bắt, đày ra Côn Đảo 6 năm. Được tha về, ông vào Việt Nam Quang phục hội, cùng Thái Phiên vận động vua Duy Tân khởi nghĩa ở Huế (1916). Việc không thành, ông bị bắt và bị xử chém cùng với Thái Phiên ở cửa An Hoà (Huế) ngày 17-5-1916.

 

TRẦN CUNG

 

Phố: dài l,6km; từ đường Phạm Văn Đồng qua Bệnh viện E đến đường Nguyễn Phong Sắc. Đây vốn là một đoạn của đường 69 cũ. Đất xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm. Tên được đặt từ tháng 8-2005.

 

Trần Cung (1899 - 1995): tham gia hoạt động từ năm 1923. Năm 1946 ông là Xứ ủy viên Bắc Kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương, phụ trách 3 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn. Sau 1954, ông được phân công về Đảng đoàn, Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sau là Chánh tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao. Ông là chiến sĩ cách mạng lớp đầu của Đảng.

 

TRẦN DUY HƯNG

 

Đường: dài 1,6km; từ cầu Tô Lịch bắc qua sông Tô nối phố Nguyễn Chí Thanh với đường Phạm Hùng.

 

Đây là đoạn đầu con đường đôi mới mở năm 1998 đi Hoà Lạc. Đất xã Trung Hoà, huyện Từ Liêm trước, nay thuộc phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy.

 

Tên được đặt từ tháng 1-1999.

 

Trần Duy Hưng (1912 -1988): Bác sĩ, nhà chính trị, tên chính là Phạm Thư, sinh lại xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Khởi nghĩa tháng Tám, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính đầu tiên của thủ đô Hà Nội. Trong kháng chiến chống Pháp, ông từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ (1947), Thứ trưởng Bộ Y tế (1954). Tháng 10-1954, ông là Phó chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội, vào tiếp quản Thủ đô, sau là Chủ tịch Ủy ban hành chính rồi Ủy ban nhân dân thành phố cho đến năm 1977. Ông là đại biểu Quốc hội từ khoá I (1946) đến khoá VII (1987), một trí thức yêu nước được nhân dân Thủ đô yêu mến. Năm 2005 được truy tặng huân chương Hồ Chí Minh.

 

TRẦN ĐẠI NGHĨA


 

Súng không giật - SKZ do Trần Đại Nghĩa sáng chế  (ảnh tư liệu)


Phố: dài 1,5km; từ đường Đại Cồ Việt (số 115) qua trường Đại học Bách Khoa đến phố Lê Thanh Nghị (số 144), trên địa bàn phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng. Tên được đặt từ: 12-7-2007. Lúc đầu dài 800m. Tháng 6-2008 điều chỉnh kéo dài 700m đến 126c Đại La.

 

Trần Đại Nghĩa (1913 -1997): có tên chính là Phạm Quang Lễ, quê ở tỉnh Vĩnh Long, học xong trung học ở Sài Gòn, ông sang Pháp học Đại học Kỹ thuật điện, Viện nghiên cứu máy bay và Đại học Xoócbon, sau ra làm việc ở xưởng chế tạo máy bay và vũ khí quân giới ở Pháp và Đức. Năm 1946, ông theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, được giao chức Cục trưởng Cục Quân giới. Trong kháng chiến chống Pháp ông đã sáng chế ra súng không giật SKZ, súng badôca... để giết giặc. 1948 ông được phong Thiếu tướng. 1952 được tuyên dương Anh hùng lao động, 1966 ông là Viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Ông còn là Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước. Ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.

 

TRẦN ĐĂNG NINH


 Hình ảnh Trần Đăng Ninh trên con tem
 bưu chính (Ảnh tư liệu)

Phố: dài 700m, từ đường Cầu Giấy qua khu làng Quốc tế vòng sang đường Nguyễn Phong Sắc. Đất xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm cũ. Nay thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy.

 

Tên được đặt từ tháng 7-1999.

 

Trần Đăng Ninh (1910 - 1955): người làng Quảng Phú Cầu, huyện ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương (1936). Ông lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vũ trang Bắc Sơn năm 1940, được cử vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời (1940), Ban Chấp hành Trung ương (5-1941), Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ (7-1941), Ủy viên Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ và Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Đã từng được giao nhiều trọng trách: Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng (1948 - thời kỳ này, ông được mệnh danh là Bao Công Việt Nam) kiêm Phó tổng Thanh tra Chính phủ, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam. Được bầu lại làm Ủy viên Trung ương Đảng (1951). Trong thời kỳ bí mật, ông đã bị tù 2 lần và cả 2 lần đều vượt ngục, nổi tiếng về đấu tranh kiên cường, bất khuất trong nhà tù đế quốc. (còn nữa)

Các từ khóa theo tin:

(Theo Ban Chỉ đạo Quốc gia Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội)

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Hà Nội - Từ 1000 đến… (01/10/2010)
Phố Hàng Đào (07/09/2010)
Phố Xã Đàn (07/09/2010)
Đường Điện Biên Phủ (07/09/2010)
Phố Chùa Láng (07/09/2010)
Làng cổ bên sông Đáy (04/09/2010)
Hướng dẫn tra cứu tìm địa điểm các đường phố Hà Nội (01/08/2010)
Đường Xuân Thủy (01/07/2010)
Phố Hàng Tre (01/07/2010)
Hướng đến Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội: Đậm đà hương vị quê hương (30/05/2010)
 Trang 1 / 5 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Các đường phố Hà Nội theo vần T (17/03/2010)
Các đường phố Hà Nội theo vần T (tiếp theo) (17/03/2010)
Các đường phố Hà Nội theo vần T (tiếp theo) (17/03/2010)
Các đường phố Hà Nội theo vần S (17/03/2010)
Rung động những ngõ cổ chốn Hà thành (16/03/2010)
Đa Sĩ - Đất học, đất nghề (16/03/2010)
Hàng Đồng - Phố xưa còn lại (15/03/2010)
Kẻ Vác làm quạt (15/03/2010)
Làng nghề chế tác đàn dân tộc Đào Xá (15/03/2010)
Các đường phố Hà Nội theo vần Q (11/03/2010)
 Trang 1 / 5 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet